Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền chọn chứng khoán và phòng ngừa rủi ro trên TTCK - Chương 2: Vận dụng các chiến lược quyền chọn để kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trong các điều kiện của thị trường. - Chương 3: Thực trạng SGDCK TP.HCM và sự cần thiết ứng dụng quyền chọn chứng khoán. - Chương 4: Các giải pháp ứng dụng quyền chọn chứng khoán để kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trên SGDCK TP. - Kết luận 2 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Sự ra đời của quyền chọn Việc sử dụng quyền chọn trong một cố gắng bảo vệ các lợi ích kinh tế hay tài chính đạt được, được đề cập trong cuốn sách chính trị của Aristotle được xuất bản năm 332 trước công nguyên thì theo Aristotle, Thales là một triết gia và được cho là người sáng tạo ra quyền chọn.
Thales không chỉ là nhà triết học lớn mà ông còn là nhà thiên văn học và nhà toán học. Để đáp lại lời chỉ trích rằng nghề của ông không đem lại giá trị. Thales đã sử dụng khả năng về thiên văn học của mình đọc các vì sao để dự báo về thời tiết. Kỹ năng này của ông đã cho phép ông tiên đoán được vụ thu hoạch Olive lớn trong năm tới.
Tuy nhiên, Thales không đủ tiền để mua máy ép dầu Olive nên ông đã sử dụng số tiền ít ỏi của mình để mua quyền sử dụng các máy ép trong mùa thu hoạch chứ không mua các máy ép đó. Sở hữu cái quyền này đã cho Thales quyền sử dụng các máy ép trong mùa thu hoạch (hoặc ông có thể bán quyền sử dụng các máy ép dầu Olive của mình cho người khác mà nó cho ông lợi ích lớn hơn). Thales đã sáng tạo ra một hợp đồng quyền chọn đầu tiên. Người bán quyền cũng rất hạnh phúc vì ông ta có được thu nhập mà không cần quan tâm xem vụ mùa có thành công hay không.
Thales đã chứng minh cho mọi người thấy rằng kiến thức triết học, thiên văn học và toán học của ông là rất có giá trị và đem lại những giá trị rất lớn cho bản thân và xã hội. Và quyền chọn tiếp tục phát triển trong các hợp đồng hoa tulip năm 1636 và hoa Tulip đầu tiên được nhập vào Châu Âu từ Thổ Nhĩ Kỳ vào những năm của thập niên 1500s. Và đầu thế kỷ 17, hoa Tulip được xem là biểu tượng của sự phồn thịnh vì vậy mà cầu bắt đầu vượt cung (Hà Lan được xem là nơi sản xuất hoa Tulip lớn nhất) người Hà Lan bắt đầu kinh doanh các quyền chọn hoa Tulip với số lượng lớn. Việc sử dụng quyền chọn thì không đắt đỏ như mua trực tiếp với số lượng lớn.
Chiến lược quyền chọn này tỏ ra rất có lời và giá cả không leo thang nữa. 3 Vào năm 1872, một nhà tài chính người Mỹ tên Rusell Sage đã phát minh ra các quyền chọn mua, quyền chọn bán cổ phiếu đầu tiên. Giống như các quyền chọn ngày nay, quyền chọn của Sage cho người mua quyền chọn quyền được mua hoặc bán một khối lượng cổ phiếu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Và theo dòng thời gian thì vào những năm đầu của thập niên 1900, một nhóm các công ty gọi là Hiệp hội các Nhà môi giới và Kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán đã thành lập thị trường các quyền chọn.
Nếu một người nào đó muốn mua quyền chọn, một thành viên của hiệp hội này sẽ tìm một người bán sẵn sang muốn ký hợp đồng bán quyền chọn. Nếu công ty thành viên không thể tìm được người bán, tự công ty sẽ bán quyền chọn. Vì vậy, một công ty thành viên có thể vừa là nhà môi giới – người mang người mua và người bán đến với nhau – hoặc nhà kinh doanh – người thật sự thực hiện vị thế giao dịch. Mặc dù thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC) này có thể tồn tại, nhưng nó cũng có rất nhiều khiếm khuyết.
Thứ nhất, thị trường này không cung cấp cho người nắm giữ quyền chọn cơ hội bán quyền chọn cho một người khác trước khi quyền chọn đáo hạn. Các quyền chọn được thiết kế để được nắm giữ cho đến khi đáo hạn, và rồi thì chúng sẽ được thực hiện hoặc để cho hết hiệu lực. Vì vậy, hợp đồng quyền chọn có rất ít thậm chí là không có tính thanh khoản. Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng của người bán chỉ được đảm bảo bởi công ty môi giới kiêm kinh doanh.
Nếu người bán hoặc công ty thành viên của Hiệp hội các Nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán bị phá sản, người nắm giữ quyền chọn tuyệt đối không may mắn. Thứ ba, chi phí giao dịch tương đối cao, một phần là do hai vấn đề trên. Và cho tới năm 1973, đã có một thay đổi mang tính cách mạng trong thế giới quyền chọn. Sàn giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT), sàn giao dịch lâu đời nhất và lớn nhất về các hợp đồng giao sau hàng hóa, đã tổ chức một sàn giao dịch dành riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu.
Sàn giao dịch này được đặt tên là Chicago Board Option Exchange (CBOE) và mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày 26/04/1973. Các hợp đồng quyền chọn bán đầu tiên được đưa vào giao dịch trong tháng 6/1977. CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn. Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, nó đã làm tăng tính thanh khoản của thị trường.2 Tổng quan về quyền chọn 4 1.1 Khái niệm quyền chọn Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Không giống như hợp đồng tương lai, quyền và nghĩa vụ của người mua và bán quyền chọn không cân xứng nhau. Người mua quyền chọn có quyền, còn người bán quyền chọn có nghĩa vụ. Gía phải trả cho quyền chọn thường được gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn. Thực chất của việc kinh doanh quyền chọn là đánh cược trên sự biến động giá cả của chứng khoán, nếu sự dự đoán của nhà đầu tư là chính xác thì NĐT có lời và ngược lại sẽ bị thua lỗ.
Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hóa cơ sở với một mức giá xác định (hay còn được gọi là giá thực hiện - Strike price) và trong một thời hạn nhất định. Các hàng hóa cơ sở (Underlying assets) : Có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.2 Đặc điểm quyền chọn (Characteristics of options) - Vị thế mua là người mua quyền chọn có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền, còn vị thế bán là người phải thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền. - Ngày thực hiện quyền là do người mua quyền quyết định trong thời hạn của hợp đồng quyền chọn, nếu quá thời hạn thì quyền chọn mất hiệu lực, đối với quyền chọn kiểu Mỹ thì người mua quyền có thể thực hiện vào bất cứ ngày nào trong thời hạn của quyền chọn. Đối với quyền chọn kiểu Châu Âu thì ngày thực hiện quyền là ngày cuối cùng của quyền chọn (tức là vào ngày đáo hạn của quyền chọn).
- Gía thực hiện – Strike price là giá đã được thỏa thuận đối với mỗi cổ phần theo đó thì chứng khoán cơ sở có thể được mua hoặc bán bởi người nắm giữ quyền chọn khi họ thực hiện hợp đồng quyền chọn. - Người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí – gọi là phí quyền chọn (option premium). 5 - Phí quyền chọn có hai yếu tố chính là : Gía trị nội tại (Intrinsic value) và giá trị thời gian (Time value). + Gía trị nội tại của quyền chọn mua – Intrinsic Value (Call options) khi thị giá của cổ phiếu cở sở cao hơn giá thực hiện thì quyền chọn mua có lời – và số chênh lệch giữa thị giá và giá thực hiện chính là giá trị nội tại của quyền chọn mua.
+ Gía trị nội tại của quyền chọn bán – Intrinsic Value (Put options) nếu giá thị trường của chứng khoán cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện thì quyền chọn bán có lời – và số chênh lệch giữa thị giá và giá thực hiện chính là giá trị nội tại của quyền chọn bán. + Gía trị thời gian của quyền chọn – Time Value - trước khi đáo hạn, trong phí quyền chọn gồm hai phần, phần phí dôi dư ngoài giá trị nội tại của quyền chọn chính là giá trị thời gian của quyền chọn. Gía trị thời gian của quyền chọn được biết đến như là một lượng giá trị mà một nhà đầu tư sẵn lòng trả cho một quyền chọn lớn hơn phần giá trị nội tại với hy vọng rằng vào một lúc nào đó trước khi hết hạn thì giá trị của quyền chọn sẽ tăng lên vì sự thay đổi thuận lợi trong giá của chứng khoán cơ sở. Thời gian càng dài và các điều kiện thị trường hoạt động có lợi cho nhà đầu tư, thì giá trị thời gian càng tăng lên.
6 - Các trạng thái của quyền chọn: + Đối với quyền chọn mua + Nếu giá thị trường của cổ phiếu lớn hơn giá thực hiện của cổ phiếu thì quyền chọn có lời – In the money – ITM. + Nếu giá thị trường của cổ phiếu nhỏ hơn giá thực hiện của cổ phiếu thì quyền chọn bị lỗ - Out of the money – OTM. + Nếu giá thị trường của cổ phiếu bằng giá thực hiện cổ phiếu thì quyền chọn mua hòa vốn – At the money – ATM. + Đối với quyền chọn bán + Nếu giá thị trường của cổ phiếu nhỏ hơn giá thực hiện của cổ phiếu thì quyền chọn bán có lời – In the money – ITM.
+ Nếu giá thị trường của cổ phiếu lớn hơn giá thực hiện của cổ phiếu thì quyền chọn bán bị lỗ - Out of the money – OTM. + Nếu giá thị trường của cổ phiếu bằng giá thực hiện của cổ phiếu thì quyền chọn bán hòa vốn – At the money – ATM.