CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Tổng quan về chứng khoán phái sinh 1.1 Khái niệm về chứng khoán phái sinh Theo Robert E.Whaley (2006) và John C.Hull thì CKPS là một thỏa thuận hợp đồng được thực hiện vào một ngày trong tương lai và giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của một loại tài sản cơ sở. Theo Luật chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14) thì “Chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính dưới dạng hợp đồng, bao gồm hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai (HĐTL), hợp đồng kỳ hạn, trong đó xác nhận quyền, nghĩa vụ của các bên đối với việc thanh toán tiền, chuyển giao số lượng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá đã được xác định trong khoảng thời gian hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai”. Theo nghị định số NĐ 155/2020/NĐ-CP thì chứng khoán phái sinh: “Tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh (sau đây gọi là tài sản cơ sở) là chứng khoán, chỉ số chứng khoán hoặc tài sản khác theo quy định của Chính phủ được sử dụng làm cơ sở để xác định giá trị chứng khoán phái sinh”. Các CKPS ngày càng phát triển đa dạng theo sự phát triển của tài sản gốc cũng như sự sáng tạo trên thị trường tài chính.
Sự phát triển và hoàn thiện CKPS được coi là biểu hiện của một thị trường tài chính phát triển, điều này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia 1.2 Đặc điểm của chứng khoán phái sinh Về bản chất, các loại CKPS đều có những đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, CKPS được hình thành bởi ít nhất một loại tài sản cơ sở. Sự cấu thành và thay đổi của CKPS gắn chặt với sự thay đổi và phát triển của tài sản cơ sở. - Thứ hai, CKPS luôn có ngày đến hạn (thời gian đáo hạn). Tại thời điểm đáo hạn, các CKPS trở nên hết giá trị hoặc tự động chấm dứt.
- Thứ ba, nhờ vào sự tồn tại của CKPS, các chủ sở hữu của hợp đồng đạt được những sự thoả thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sản gốc trong thời gian được xác định cụ thể mà không xác nhận quyền sở hữu đối với chúng tại thời điểm lập hợp đồng, tuy nhiên sẽ có khả năng sở hữu tài sản cơ sở trong tương lai. 6 - Thứ tư, các giao dịch CKPS thường gắn với việc sử dụng đòn bẩy tài chính thông qua hoạt động ký quỹ. Thông thường, tỉ lệ ký quỹ đối với CKPS thấp hơn nhiều so với các chứng khoán cơ sở. Điều này mang lại cho NĐT tiềm năng lợi nhuận cao hơn so với đầu tư vào chứng khoán thông thường nếu dự đoán đúng xu hướng của tài sản cơ sở, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro tổn thất lớn trong trường hợp thị trường biến động mạnh theo chiều hướng bất lợi.
- Thứ năm, so với các loại cổ phiếu bị giới hạn số lượng phát hành trên thị trường, CKPS không bị giới hạn về số lượng giao dịch mà phụ thuộc vào nhu cầu của chủ thể tham gia thị trường, giúp thị trường CKPS có thể mở rộng quy mô khi có những điều kiện thuận lợi hoặc thu hẹp khối lượng theo chiều hướng ngược lại. - Thứ sáu, khác với việc giao dịch cổ phiếu thông thường phải thanh toán toàn bộ tiền hoặc cổ phiếu ngay sau khi giao dịch, việc thanh toán hay chuyển giao tài sản cơ sở của CKPS lại được thực hiện tại một thời điểm xác định trong tương lai, giúp các bên tham gia có thời gian chuẩn bị và giảm áp lực về vốn cũng như lãi vay cần thiết. Đây cũng là một trong những điểm thu hút khách hàng đầu tư vào TTCKPS.3 Phân loại chứng khoán phái sinh Về cơ bản, CKPS được chia thành các loại hợp đồng: hợp đồng kỳ hạn, HĐTL, hợp đồng hoán đổi và hợp đồng quyền chọn. Hợp đồng kỳ hạn: Hợp đồng kỳ hạn (Forward contract) là thỏa thuận mua hoặc bán một số tài sản nhất định với mức giá được thỏa thuận tại thời điểm hiện tại và giao hàng trong tương lai.
Hợp đồng giúp cả hai bên tránh tác động bởi sự thay đổi của giá cả trên thị trường hoặc sử dụng để đầu cơ. Hợp đồng kỳ hạn có ý nghĩa quan trọng trong đầu tư kinh doanh, thường được dùng để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp giá cả biến động trong tương lai hoặc sử dụng như một công cụ để đầu cơ giá cả. Ngoài ra, hợp đồng kỳ hạn biểu thị sự thỏa thuận của hai bên về việc giao dịch hàng hóa một cách riêng biệt nên các yếu tố thời hạn cũng như quy mô có tính linh hoạt cao, tuy nhiên cũng mang 7 nhiều rủi ro do tính thanh khoản thấp và rủi ro về khả năng thanh toán của một trong các bên tham gia. Hợp đồng tương lai: HĐTL (Futures contract) là sự thỏa thuận giữa hai bên tham gia mà bên mua đồng ý mua một tài sản của bên bán tại một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng với mức giá được xác định trước tại thời điểm thỏa thuận.
HĐTL về cơ bản cũng tương tự với hợp đồng kỳ hạn, là một hợp đồng trong đó quy định rõ về các trao đổi pháp lý xảy ra giữa các chủ thể tham gia hợp đồng trong trao đổi một loại hàng hoá hoặc tài sản cụ thể với một giá trị cụ thể. Tuy nhiên, HĐTL có sự tiêu chuẩn hoá và có thể được giao dịch trên sàn chứng khoán, do vậy có những ưu thế nổi trội hơn so với hợp đồng kỳ hạn, cụ thể: - HĐTL được giao dịch trên thị trường tập trung tại các SGDCK. Các điều khoản của hợp đồng phải được chuẩn hóa theo quy định, NĐT có thể dễ dàng tìm được đối tác phù hợp cũng như giảm thiểu được tối đa rủi ro mất khả năng thanh toán do có sự can thiệp của các tổ chức trung gian và trung tâm thanh toán bù trừ. - Nhà đầu tư (NĐT) tham gia giao dịch HĐTL phải thực hiện ký quỹ.
Tỉ lệ ký quỹ sẽ phụ thuộc vào loại tài sản cơ sở hoặc quy định của từng SGDCK. Hoạt động ký quỹ nhằm đảm bảo nghĩa vụ của các bên tham gia theo hợp đồng. - Việc thanh toán lãi/ lỗ của HĐTL được diễn ra hàng ngày trong kỳ hạn hợp đồng và được cộng/ trừ vào tài khoản ký quỹ của mỗi bên tham gia hợp đồng thay vì thanh toán vào thời điểm đáo hạn như hợp đồng kỳ hạn. Hợp đồng hoán đổi: Hợp đồng hoán đổi (Swap Contract) là một thỏa thuận dạng hợp đồng giữa hai bên đối tác, theo đó các bên đồng ý thực hiện các khoản thanh toán định kì cho nhau, hay đồng ý trao đổi các luồng tiền trong tương lai theo một phương thức đã định sẵn và trong một khoản thời gian xác định trước.
Các hợp đồng hoán đổi thường được dùng để phòng ngừa các loại rủi ro tài chính (như rủi ro về lãi suất thay đổi, rủi ro về tỷ giá, rủi ro về giá cổ phiếu), để hưởng các ưu đãi dành cho các công ty trong nước, hoặc để nhằm mục đích đầu cơ. 8 Hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn là loại CKPS, xác nhận quyền của người mua và nghĩa vụ của người bán để thực hiện một trong các giao dịch sau đây: - Mua hoặc bán số lượng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá thực hiện đã được xác định tại thời điểm trước hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai; - Thanh toán khoản chênh lệch giữa giá trị tài sản cơ sở đã được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng và giá trị tài sản cơ sở tại thời điểm trước hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai. Theo đó hợp đồng quyền chọn (Option contract) là loại thỏa thuận cho phép NĐT sở hữu quyền mua hoặc bán một loại hàng hóa nhất định, có thể là cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ… Theo đó, người sở hữu sẽ có quyền mua/bán hàng hóa với mức giá thỏa thuận, thực hiện giao dịch trong thời gian nhất định trước khi hợp đồng hết hạn. Hiểu đơn giản, hợp đồng quyền chọn cũng giống như các hợp đồng thông thường, đều có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên.
Tuy nhiên, tại nước ta, hợp đồng quyền chọn được giao dịch thông qua chủ thể trung gian (Sở giao dịch hàng hóa) nên phải tuân theo một số quy chế đặc biệt.4 Lợi ích và rủi ro của chứng khoán phái sinh a) Lợi ích của chứng khoán phái sinh Lợi ích của CKPS thể hiện qua mục đích sử dụng của chúng, như: Để phòng ngừa rủi ro, đầu cơ và hỗ trợ thanh khoản cho những bên tham gia hợp đồng phái sinh. - Phòng ngừa rủi ro biến động giá: HĐTL (phái sinh) được sử dụng để phòng ngừa rủi ro đối với vị thế của một tài sản cơ sở. Từ đó, NĐT có thể giảm được một số thiệt hại hoặc thua lỗ khi tài sản với vị thế cơ sở của mình trên đà biến động giá bất lợi. - Đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận: Đầu cơ là một ưu điểm nổi trội của CKPS.
Thị trường có tính hai chiều, do đó NĐT nếu dự đoán đúng được xu hướng đều có thể kiếm được lợi nhuận cả khi thị trường đi lên hoặc đi xuống. 9 - Tính thanh khoản cao: CKPS có các ưu thế hỗ trợ cho thanh khoản cao hơn so với thị trường chứng khoán cơ sở như: + Cho phép các NĐT tận dụng các lợi thế về đòn bẩy + Giao dịch linh hoạt, bù trừ nhanh ngay trong ngày + Không giới hạn về số lượng phát hành/ niêm yết b) Rủi ro của chứng khoán phái sinh - Rủi ro trong chiến lược đầu cơ: Trong trường hợp thay đổi về giá tài sản cơ sở trên TTCK không đúng với dự đoán ban đầu dẫn tới thua lỗ xảy ra và với tác động của đòn bẩy, mức thua lỗ tính theo phần trăm số vốn đầu tư ban đầu sẽ lớn hơn rất nhiều. - Rủi ro đối tác: Nếu bên đối tác không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán, NĐT sẽ không thể thu hồi được số tiền họ đáng lẽ phải nhận. Điều này có thể gây ra tổn thất tài chính nghiêm trọng cho NĐT, ảnh hưởng đến danh mục đầu tư và kết quả kinh doanh của họ.