Đặt vấn đề Trƣớc đây, hàm lƣợng nitơ trong nƣớc thƣờng đƣợc xử lý theo phƣơng pháp truyền thống gồm 2 giai đoạn là: Nitrate hóa và khử nitrate. Quá trình này tiêu tốn một lƣợng oxy rất lớn, tƣơng ứng với vấn đề đó là nhu cầu năng lƣợng cao. Bên cạnh đó việc khử nitrate bắt buộc phải có mặt các chất hữu cơ nhƣ là nguồn cung cấp carbon cho vi khuẩn khử nitrate sử dụng, dẫn đến gia tăng chi phí xử lý. Trong những năm gần đây, nhiều công nghệ mới để xử lý nitơ trong nƣớc thải đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng trong đó có công nghệ kết hợp quá trình nitrite hóa bán phần và Anammox.
Hai thập niên qua đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng liên quan đến quá trình Autotrophic Nitrification-Denitrification) và CANON (Completely Autotrophic Nitrogen removal Over Nitrite) hay SNAP (Single-stage Nitrogen removal using Anammox and Partial nitritation) tiêu biểu cho sự kết hợp trong cùng một hệ thống. Các quá trình mới này có hiệu quả cao và khắc phục đƣợc các nhƣợc điểm của công nghệ sinh học xử lý nitơ truyền thống (Sri Shalini and Joseph, 2012). Chính vì vậy, khi quá trình SHARON đƣợc phát triển tại trƣờng Đại học Kỹ thuật Delft, Hà Lan (C. Hellinga và cộng sự, 1998) nó đã mở ra một hƣớng đi mới trong công nghệ xử lý nitơ, làm sạch nguồn nƣớc và giải quyết bài toán về chi phí vận hành, kết hợp quá trình nitrite hóa và quá trình khử nitrite thông qua nitrite.
Mô hình SHARON đƣợc vận hành ở điều kiện nhiệt độ t ≥ 25 oC, vi khuẩn AOB sinh trƣởng nhanh hơn NOB, chọn thời gian lƣu bùn đủ ngắn để NOB bị rửa trôi khỏi bể phản ứng, ngoài ra phƣơng pháp này cho phép giảm nhu cầu oxy và cacbon, do đó cắt giảm đƣợc chi phí đầu tƣ, vận hành và bảo dƣỡng. So với quá trình kết hợp nitrate hóa và khử nitrate thông thƣờng, quá trình này tiết kiệm đến 25% năng lƣợng tiêu thụ cho thổi khí và chi phí hóa chất giảm do nhu cầu COD giảm 40% cho khử nitrite, lƣợng bùn sinh ra ít hơn 30% và giảm 20% lƣợng phát thải CO2 (Mulder và cộng sự, 2001). Nƣớc thải sản xuất găng tay cao su có tỉ lệ C/N thấp, nồng độ nitơ cao, ngoài ra nƣớc thải sau keo tụ, hóa lý có nhiệt độ vào khoảng 35 oC, rất tối ƣu cho quá trình SHARON. Vì vậy đề tài "Ứng dụng quá trình SHARON trong xử lý nước thải sản xuất găng tay cao su" đƣợc tiến hành nghiên cứu với mục đích chứng minh cơ sở 2 khoa học và ứng dụng thực tiễn của quá trình SHARON trong việc xử lý nƣớc thải giàu ammonia, và điển hình là xử lý nƣớc thải sản xuất găng tay cao su.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này ứng dụng mô hình SHARON xử lý nƣớc giả thải và nƣớc thải sản xuất găng tay cao su có kiểm soát nhiệt độ ≥ 31oC.3 Đ i tƣ ng nghiên cứu Nƣớc gỉả thải có nồng độ ammonia 150 mg/L và nƣớc thải sản xuất găng tay cao su lấy tại bể điều hòa (sau xử lý keo tụ) của trạm xử lý nƣớc thải sản xuất găng tay cao su Công ty Cổ phần Khải Hoàn, nằm trong KCN Bàu Bàng, xã Lai Hƣng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng.
Thí nghiệm đƣợc tiến hành trên mô hình SHARON quy mô phòng thí nghiệm có thể tích 30 L.4 Nội dung nghiên cứu: Để đáp ứng mục tiêu, đề tài có các nội dung nghiên cứu sau: Làm giàu sinh khối AOB và thích nghi vi khuẩn khử nitrite ở nhiệt độ ≥ 31oC. Đánh giá hiệu quả xử lý ammonia của quá trình SHARON ở nhiệt độ ≥ 31oC trên 2 đối tƣợng nƣớc thải: nƣớc giả thải và nƣớc thải sản xuất găng tay cao su. Đánh giá hoạt tính AOB, NOB và khử nitrite. Đánh giá nồng độ sinh khối trong bể SHARON.5 Phƣơng pháp nghiên cứu: Để thực hiện các nội dung nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây: phƣơng pháp tổng quan, kế thừa: tổng hợp, thu thập có chọn lọc, tham khảo các tài liệu trong và ngoài nƣớc có liên quan đến nghiên cứu; phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm: thiết lập và vận hành mô hình thí nghiệm; phƣơng pháp phân tích hóa học, sinh học đối với các thông số môi trƣờng nƣớc thải; phƣơng pháp thống kê, xử lý số liệu: xử lý số liệu bằng các công thức toán học và phần mềm Excel, Stata.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn a.
Ý nghĩa khoa học Từ nội dung nghiên cứu xác định đƣợc những thông số kiểm soát và vận hành quá trình SHARON. Ý nghĩa thực tiễn Làm tiền đề nghiên cứu ứng dụng quá trình SHARON vào thực tiễn để xử lý nƣớc thải sản xuất găng tay cao su ngoài thực tế.7 Tính mới của đề tài Xác định đƣợc sự thích nghi và phát triển của AOB và NOB trong môi trƣờng nƣớc thải sản xuất găng tay cao su. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nƣớc thải sản xuất găng tay cao su 1.
Đặc điểm, thành phần nƣớc thải Nƣớc thải từ các nhà máy chế biến cao su, mà điển hình là nƣớc thải từ quá trình sản xuất găng tay cao su chƣa đƣợc xử lý triệt để là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình ô nhiễm môi trƣờng ngày càng trở nên nghiêm trọng. Do đó vấn đề đánh giá và đƣa ra phƣơng án khả thi cho việc xử lý nƣớc thải từ các nhà máy sản xuất găng tay cao su cần đƣợc quan tâm một cách nghiêm túc và đầy đủ. Găng tay cao su sản xuất từ nguyên liệu chính là cao su thiên nhiên – mủ Latex. Latex hay latex cao su là một chất lỏng phức hợp, có thành phần và tính chất khác biệt nhau tùy theo loại.
Theo nguyên tắc, ta có thể nói đó là một trạng thái nhũ tƣơng (thể sữa trắng đục) của các hạt phân tử cao su (pha phân tán) trong môi trƣờng phân tán lỏng. Ở Việt Nam, latex còn đƣợc gọi là mủ cao su nƣớc. Latex cao su đƣợc chia làm 2 loại: Latex cao su thiên nhiên (NR) và latex cao su tổng hợp (Synthetic rubber). Đặc tính ô nhiễm của nƣớc thải sản xuất găng tay cao su đƣợc trình bày trong bảng 1.1: Đặc tính ô nhiễm của nƣớc thải ngành sản xuất găng tay cao su Chỉ tiêu Đơn vị Nồng độ pH - 6,5 – 8,0 COD mg/L 150 – 1500 SS mg/L 150 – 300 N-NH4+ mg/L 30 – 200 Tồng N mg/L 50 – 300 Tồng P mg/L 5 – 15 Nguồn: Công ty cổ phần Khải Hoàn, 2015 Hơn 90% chất rắn trong nƣớc thải sản xuất găng tay cao su là chất rắn bay hơi, phần lớn chất rắn ở dạng hòa tan, còn ở dạng lơ lửng chủ yếu là những hạt cao su còn sót lại.
Hàm lƣợng nitơ hữu cơ thƣờng không cao và chúng có nguồn gốc từ các protein trong mủ cao su. Trong khi đó, hàm lƣợng nitơ ở dạng ammonia là rất cao do 5 việc sử dụng ammonia để chống đông tụ trong quá trình thu hoạch, vận chuyển và lƣu trữ mủ cao su. Công nghệ xử lý nƣớc thải sản xuất găng tay cao su Khải Hoàn Nƣớc thải Máy thổi khí Bể điều hòa Dd keo tụ - Dd tạo bông Hệ keo tụ tạo bông Bể lắng hóa lý Xử lý bùn Khuấy chìm Bể sinh học thiếu khí Máy thổi khí Bể sinh học hiếu khí Bể lắng sinh học Bùn sinh học Cột A - QCVN 40:2011/BTNMT Hình 1.1: Sơ đồ công nghệ xử lý nƣớc thải sản xuất găng tay cao su công ty Khải Hoàn Nhận xét: Phần lớn ô nhiễm COD xuất phát từ nƣớc thải đậm đặc - chủ yếu do SS gây ra COD (nƣớc thải vệ sinh các bồn phối trộn mủ latex). Nƣớc thải nhập chung xuống hệ thống có nhiệt độ trung bình 40-50 oC.
6 Tại các thời điểm có nƣớc thải đậm đặc (nƣớc thải vệ sinh các bồn phối trộn mủ latex) trộn chung với nƣớc thải sản xuất nồng độ ô nhiễm có tăng lên (độ đục SS, COD, TN có tăng cao) so với nƣớc thải bình thƣờng. Phần lớn lƣu lƣợng nƣớc thải gom chung tại hệ thống hiện hữu là nƣớc thải nồng độ thấp COD thấp và TN cao. Khoảng 7-15 ngày khuôn mủ latex và khuôn tạo đông trong các line sản xuất sẽ xả đáy và vệ sinh 1 lần. Do mủ latex tại đây có chứa NH3 rất nhiều dẫn tới làm ô nhiễm TN rất cao.
Một s công nghệ xử lý nƣớc thải sản xuất găng tay cao su ở Việt Nam Một số nghiên cứu về xử lý nƣớc thải sản xuất găng tay cao su đã đƣợc nghiên cứu tại Việt Nam nhƣ sau: Theo nghiên cứu của Nguyễn Trung Việt (1999) cho thấy: quá trình phân huỷ kỵ khí trong bể UASB chuyển hoá hợp chất hữu cơ có khả năng phân huỷ sinh học thành acetate, propionate và methane lớn hơn 95% hiệu suất của quá trình chuyển hoá phụ thuộc vào nồng độ COD. Ở pH 7,0-7,4 và tải trọng 0,2 gCOD/gVSS/ngày, protein phân huỷ hoàn toàn hơn ở pH 4,8. Sự phân huỷ protein xảy ra không hoàn toàn do sự có mặt của các protein bền vững nhƣ hevein trong nƣớc thải cao su. Trong quá trình phân huỷ protein, có thể làm giảm pH xuống 5 do việc tạo thành axit béo bay hơi (VFA) trong điều kiện nghèo dinh dƣỡng.
Bể UASB có thể hoạt động ổn định với tải trọng COD lên đến 15-20 kgCOD/m3/ngày, thời gian lƣu nƣớc khoảng 2-6h, vận tốc nƣớc đi lên là 0,4m/h. UASB là phƣơng án thích hợp cho việc xử lý nƣớc thải cao su Tác giả cũng tiến hành đánh giá khả năng ao thực vật thủy sinh để xử lý trực tiếp nƣớc thải cao su cao su và dòng thải từ UASB. Đây là bƣớc xử lý tiếp theo để đạt đƣợc tiêu chuẩn xả thải cho nguồn tiếp nhận. Kết quả thu đƣợc cây dạ lan hƣơng thích hợp với nồng độ COD 2480 mg/L và có thể đến 2900 mg/L.
Trong khi đó, tảo thích hợp với nồng COD thấp hơn 2280 mg/L và phụ thuộc vào quá trình thích nghi. Hạt cao su lơ lửng là nhân tố chính làm giảm hiệu quả xử lý của bể, những hạt này tạo thành màng mỏng ở tế bào rể, ngăn cản nƣớc và chất dinh dƣỡng vào lá và tế bào làm cho chúng chết nhanh. Dòng thải đầu vào có nồng độ 300 mg/L cho đầu ra thấp hơn 100 mg/L. Trong bể tảo, tải trọng hữu cơ không quá 15kg/ha.ngày, nếu quá trình trong dòng thải không có oxy.