Đặt vấn đề Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế chủ yếu sản xuất nông nghiệp, nằm trong nhóm các nước đang phát triển và thuộc trong số các nước nghèo trên thế giới. Với phần lớn dân số sống ở khu vực nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn được xem là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Nông thôn góp phần giải quyết vấn đề việc làm và xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng cao và phong phú của con người về lương thực, thực phẩm. Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, trạm khuyến nông giữ vai trò đặc biệt quan trọng, giúp thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Phát triển công tác khuyến nông là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Nhận thức được tầm quan trọng đó của hoạt động khuyến nông đối với sự nghiệp phát triển của nước ta ngày 02/03/1993 Chính Phủ ban hành nghị định 13/CP về công tác khuyến nông hệ thống khuyến nông nhà nước chính thức được thành lập từ trung ương đến địa phương, từ đó đến nay hoạt động khuyến nông thường xuyên được tiến hành góp phần đưa đất nước ngày một phát triển. Hiện nay phương pháp tập huấn đang được áp dụng rộng rãi trên cả nước nhất là đối với các trạm khuyến nông. Nhờ vào công tác khuyến nông mà cán bộ khuyến nông truyền đạt được những kiến thức, khoa học kỹ thuật đến người dân.
Thông qua các buổi trao đổi truyền đạt kiến thức cho người dân về kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt mà có thể đánh giá được mức độ quan tâm của người dân đối với việc sản xuất thay đổi phương thức trồng trọt. Tuy nhiên công tác khuyến nông còn gặp nhiều khó khăn và thử thách như: Kinh phí cho các hoạt động khuyến nông còn hạn chế ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện, các hoạt động tuyên truyền, thông tin đại chúng h 2 chưa sát với người dân, trình độ dân trí còn chưa cao, cơ sở hạ tầng còn kém ảnh hưởng đến quá trình đi lại và học tập của người dân, số lượng người tham gia trong các lớp tập huấn còn ít… Xuất phát từ những vấn đề đó, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm Khoa KT & PTNT trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của trạm khuyến nông huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Th.S Nguyễn Mạnh Thắng, em tiến hành đề tài:“Ứng dụng phương pháp tập huấn khuyến nông để đánh giá nhu cầu và sự tham gia của người dân tại xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu chung Tìm hiểu được các hoạt động khuyến nông của xã để đánh giá nhu cầu mức độ tham gia vào các hoạt động khuyến nông mà trạm thực hiện tại xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Tân Long.
- Tổ chức và thực hiện được 2 lớp tập huấn cho nông dân. - Đánh giá được nhu cầu và sự tham gia của người dân trong tập huấn khuyến nông. - Đề suất các giải pháp để nâng cao hiệu quả tập huấn khuyến nông. Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ - Nắm vững được những chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước và các nghành.
- Tham khảo những kỹ năng quản lý, tổ chức các buổi tập huấn. - Có kiến thức về các phương pháp phân tích, tổng hợp, báo cáo. Yêu cầu về thái độ và ý thức trách nhiệm - Về thái độ: Luôn trung thực, đánh giá đúng đời sống tinh thần của người dân. h 3 - Ý thức trách nhiệm: Nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc.
+ Nâng cao phẩm chất, đạo đức cá nhân. + Có tác phong làm việc, hợp tác, thân thiện với cộng đồng. + Nâng cao khả năng cập nhật kiến thức, có ý tưởng sáng tạo trong mọi công việc. Yêu cầu về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc - Luôn giữ thái độ khiêm nhường, cầu thị.
- Thông qua việc thực tập bên ngoài trường không chỉ giúp học tập được chuyên môn mà còn là một dịp tốt để tập làm việc trong môi trường tập thể, giúp cho khả năng giao tiếp và xử thế tốt hơn. - Tạo được mối quan hệ tốt đẹp thân thiện với mọi người, hòa nhã với các cán bộ tại nơi thục tập và người dân tại xã. - Năng động, tự chủ, sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ. - Thực hiện công việc được giao với tinh thần trách nhiệm cao.
Ý nghĩa của đề tài - Đối với việc học tập: Thông qua đề tài giúp cho tôi nắm chắc những kiến thức đã học ở trường. Học hỏi được những kinh nghiệm trong thực tế phục vụ cho công việc sau này. - Đối với thực tiễn: Qua quá trình tìm hiểu về tình hình tập huấn và sự tham gia của người dân trong đó rút ra được những tồn tại, những khó khăn trong việc truyền tải cho người kiến thức cho người dân, những nguyên nhân chủ yếu, từ đó có giải pháp phù hợp để khắc phục. Nội dung thực tập và phương pháp thực hiện 1.
Nội dung thực tập - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hôi của xã. - Chọn 2 thôn mỗi thôn mở một lớp tập huấn nội dung của các lớp tập huấn là: Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh trên cây na và kỹ thuật ủ phân vi sinh làm phân bón cho cây bưởi da xanh. h 4 - Sử dụng bảng hỏi để đánh giá nhu cầu, mức độ tham gia của người dân. - Nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả tập huấn khuyến nông.
Phương pháp thực hiện 1. Phương pháp thảo luận Tổ chức trao đổi, thảo luận các vấn đề về thực tập bao gồm các thành phần là cán bộ tại cơ sở thực tập, giảng viên hướng dẫn và sinh viên nhằm giúp cho sinh viên hình thành, nắm bắt được các nguyên tắc cần tuân thủ trong quá trình thực tập; từ đó rút ra được các kết luận theo yêu cầu của quá trình thực tập. Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm Từ việc nghiên cứu tài liệu, giáo trình, tìm hiểu các nguồn thông tin, tham khảo ý kiến, học hỏi kinh nghiệm làm việc của các cán bộ tại cơ sở thực tập để tiến hành thực hiện vai trò của cán bộ. Phương pháp phỏng vấn Là phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra để tìm hiểu một số thông tin như: Vai trò, chức năng, nhiệm vụ,.
của cán bộ trong các buổi tập huấn phẩn vấn để lấy thông tin của mọi người. Phương pháp chọn hộ tham gia lớp tập huấn Lựa chọn số hộ tham gia băng cách mỗi xóm chọn 30 hộ tham buổi tập huấn bằng cách phát giấy mời chọn hộ ngẫu nhiên, trên địa bàn 2 xóm tại xã Tân Long. Phương pháp phỏng vấn sâu Là phương pháp thu thập thông tin thông qua cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa người điều tra và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy, thông qua phỏng vấn không cấu trúc và phỏng vấn bán cấu trúc. Thời gian, Địa điểm Thời gian: Ngày 15 tháng 01 năm 2018 đến ngày 30 tháng 05 năm 2018 Địa điểm: UBND xã Tân Long - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên h 6 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập - Nông nghiệp: Là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản. Theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.[5] Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển. Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng: - Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân.
Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.[5] - Nông nghiệp chuyên sâu: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. [5] - Kinh tế hộ: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành viên đều dựa trên cơ sở sản xuất chung, các nguồn sản phẩm do các thành viên cùng h 7 tạo ra và cùng sử dụng chung.
Quá trình sản xuất của hộ được tiến hành một các độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thường có cùng huyết thống, thường cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung với nhau, họ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động. Kinh tế hộ là sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất phục vụ cho gia đình không kinh doanh mua bán ra thị trường nên sản phẩm của kinh tế hộ không gọi là hàng hóa. Kinh tế hộ không thuê mướn lao động mà chỉ sử dụng lao động trong gia đình.[1] - Giá trị sản xuất nông nghiệp: Là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả lao động trực tiếp, hữu ích của ngành nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định, và được thể hiện bằng giá trị của sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất ra trong thời kỳ đó của ngành nông nghiệp.