CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lớp học đảo ngược ( Flipped Classroom) 1. Khái niệm lớp học đảo ngược Có nhiều định nghĩa về lớp học đảo ngược một số trong đó là: Theo Lage, M. J-Treglia [27; tr 32] : “Đảo ngược lớp học có nghĩa là các sự kiện truyền thống diễn ra bên trong lớp học bây giờ diễn ra bên ngoài lớp học và ngược lại’’.
Tức là các hoạt động dạy học lý thuyết bài mới, các ví dụ nhận biết, thông hiểu được thực hiên bên ngoài lớp học trước khi lên lớp và di chuyển các hoạt động tổng hợp, luyện tập, nâng cao, mở rộng vào trong giờ học. Theo Brame(2015) [26]: ‘’Trong mô hình lớp học đảo ngược , HS sẽ phải tự làm việc với bài giảng trước thông qua đọc tài liệu, tóm tắt tài liệu, nghe giảng thông qua các phương tiện hỗ trợ như băng hình, trình chiếu Powerpoint, và khai thác tài liệu trên mạng. Bài giảng trở thành bài tập mà HS phải chuẩn bị trước khi lên lớp. Toàn bộ thời gian trên lớp sẽ dành cho các hoạt động giải bài tập, ứng dụng lí thuyết bài giảng vào giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm để tìm hiểu kiến thức dưới sự hướng dẫn của GV; thay vì thuyết giảng, GV đóng vai trò là người điều tiết hỗ trợ, có thể giúp HS giải quyết những điều khó hiểu trong bài mới’’.
Theo Bishop – Verleger [24;tr7]: Mô hình lớp học đảo ngược như là một kĩ thuật giáo dục bao gồm 2 phần: các hoạt động học tập nhóm tương tác bên trong lớp học và hướng dẫn cá nhân trên máy tính bên ngoài lớp học. Theo Baker (2000)[23]: “Flipped Classroom”: Giáo viên sẽ “đảo ngược” lớp học bằng cách cung cấp trước tài liệu học tập online (gồm các video, power point, file âm thanh) để học sinh tự nghiên cứu, giờ học trên lớp sẽ chủ yếu dùng để thảo luận và giải đáp câu hỏi. Trong quá trình này, GV cũng sẽ tiến hành nhiều bài kiểm tra online, để đánh giá quá trình tự nghiên cứu và học tập của học sinh. 10 Với mô hình giảng dạy truyền thống thì trong lớp GV đóng vai trò là người phổ biến chính thông tin trong suốt thời gian học.
Nhưng lớp học đảo ngược lại cố ý chuyển sự hướng dẫn học tập sang mô hình lấy người học làm trung tâm, trong đó thời gian lên lớp được sử dụng để khám phá sâu hơn các chủ đề và tạo ra cơ hội học tập tích cực và hiệu quả với điều kiện HS đã tự tìm hiểu trước nội dung bài học. Mô hình lớp học đảo ngược: Hình 1.1: Mô hình lớp học đảo ngược Ở mô hình LHĐN, người học ở vị thế hoàn toàn chủ động, tự tìm hiểu, học tập, phân tích, tổng hợp, đánh giá và vận dụng các kiến thức đã học được vào thực tế. Thay vì chỉ lắng nghe rồi ghi nhớ, thông hiểu sau đó vận dụng. Cách học chủ động sẽ giúp học sinh tiếp thu, tận dụng kiến thức học tập một cách hiệu quả hơn so với cách học thụ động truyền thống.
Đặc điểm của lớp học đảo ngược - Lớp học đảo ngược sử dụng công nghệ thông tin như một phương tiện dạy học Trong mô hình lớp học đảo ngược, HS chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết, tài liệu mà GV cung cấp, các em có thể tiếp cận video bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú và xem lại nếu cần (điều này là không thể nếu nghe GV giảng dạy trên lớp) ở ngoài giờ học. Thời gian ở lớp sẽ dành cho các hoạt động hợp tác giúp củng cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu và vận dụng kiến thức làm các bài tập nâng cao hơn. Phương tiện dạy 11 học bao gồm các dịch vụ đa phương tiện mang thông tin về nội dung học tập đến người học như email, diễn đàn, wed, mạng xã hội… Với mô hình này thì phương tiện dạy học vừa truyền tải nội dung học tập vừa thay thế chức năng truyền tải nội dung của giáo viên tới người học và ngược lại. - Lớp học đảo ngược giúp thực hiện tốt quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm Trong dạy học truyền thống phương pháp chủ yếu là thuyết trình giảng giải, thày nói trò ghi.
HS tiếp thu thụ động, cố hiểu và nhớ những điều GV đã giảng, trả lời những câu hỏi GV nêu ra về những vấn đề đã dạy. Giáo án được thiết kế theo trình tự đường thẳng, chung cho cả lớp học. Trong mô hình LHĐN ta coi trọng việc tổ chức cho HS hoạt động độc lập hoặc hoạt động theo nhóm như xem video bài giảng, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, hoàn thiện các phiếu bài tập… thông qua đó HS vừa tự lực nắm các kiến thức, kĩ năng mới, đồng thời HS được rèn luyện về phương pháp tự học và đặc biệt HS được tập dượt phương pháp nghiên cứu. GV quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân HS và của tập thể HS để xây dựng bài học.
Những dự kiến tổ chức dạy học của GV tập trung chủ yếu vào các hoạt động của HS và cách tổ chức các hoạt động đó, GV dự đoán các khả năng diễn biến các hoạt động của HS để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn tiến của tiết học, tạo điều kiện thuận lợi cho HS bộc lộ và phát triển tiềm năng của mình. Ta thấy với mô hình này học sinh ở vị trí trung tâm, là chỗ giao thoa của mọi con đường kiến thức. Kiến thức hướng đến người học không chỉ đến từ GV mà nó còn đến từ hệ thống mạng máy tính, qua các bài giảng e- learning, sách vở, từ môi trường tự nhiên, xã hội, gia đình. - Lớp học đảo ngược hướng vào dạy học cá thể, cho phép giáo viên dành thời gian nhiều hơn với từng cá nhân HS chưa hiểu kỹ bài giảng.
Thời gian ở lớp được dành để thực hiện các bài tập chuyên sâu hơn, thực hiện những nội dung phức tạp khó hiểu hơn. Những video giáo dục trực tuyến 12 được thiết kế để truyền tải nội dung tập trung vào lý thuyết. Ngoài ra, nội dung của lớp học đảo ngược có thể xây dựng ở nhiều hình thức khác nhau (thậm chí có thể sử dụng nội dung của đơn vị cung cấp phía ngoài) - Giảm thời gian tiếp thu thụ động, tăng thời gian cho việc đào sâu suy nghĩ, phát triển năng lực sáng tạo cho HS Ở lớp học cổ điển, học sinh đến trường ngồi nghe giảng bài thụ động và hình thức này được giới chuyên môn gọi là ‘’Low thinking’’. Sau đó các em về nhà làm bài tập và quá trình này sẽ khó khăn nếu học sinh không hiểu bài.
Lúc này cha mẹ các em sẽ phải đóng vai người thầy bất đắc dĩ để giúp con mình làm bài và hầu hết đều không thành công trong vai trò này, hoặc rất vất vả vì phụ huynh không có chuyên môn. Như vậy, nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mới thuộc về người thầy, và theo thang tư duy Bloom thì nhiệm vụ này chỉ ở những bậc thấp (tức là “Biết” và “Hiểu”). Còn nhiệm vụ của học sinh là làm bài tập vận dụng và nhiệm vụ này thuộc bậc cao của thang tư duy (bao gồm “Ứng dụng”, “Phân tích”, “Tổng hợp” và “Đánh giá”). Điều trở ngại ở đây đó là nhiệm vụ bậc cao lại do học sinh và phụ huynh là những người không có chuyên môn đảm nhận.
Mô hình LHĐN đã đảo ngược quá trình này lại. HS tự chiếm lính kiến thức mới, thực hiện các bài tập ở mức nhận biết thông hiểu thông qua việc xem các video bài giảng, thông qua hoạt động nghiên cứu sách vở và các tài liệu liên quan, trong quá trình này vai trò giám sát và giúp đỡ của phụ huynh là rất phù hợp và hiệu quả. Trên lớp với sự hướng dẫn, gợi ý của GV, của bạn học các em sẽ thuận lợi hơn trong việc thực hiện những bài tập nâng cao, bài tập khó và các em có thời gian nghiên cứu mở rộng thêm kiến thức. Với mô hình LHĐN, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người thầy (thông qua những giáo trình eLearning đã được giáo viên chuẩn bị trước cùng thông tin do học sinh tự tìm kiếm), nhiệm vụ của học sinh là tự học kiến thức mới này và làm bài tập mức thấp ở nhà.
Sau đó vào lớp các em được giáo viên tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau. Các 13 bài tập bậc cao cũng được thực hiện tại lớp dưới sự hỗ trợ của GV và các bạn cùng nhóm. Cách học này đòi hỏi học sinh phải dùng nhiều đến hoạt động trí não nên được gọi là “High thinking”. Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả thầy và trò.
Lớp học đảo ngược mô hình nhận thức: Lớp học truyền thống với lớp học theo Flipped Lớp học truyền thống Lớp học Flipped 6 Sáng tạo Giảng viên và Học viên tự học viên cùng mình đào sâu, đào sâu thực 5 làm bài tập để có hành, làm bài tập thể đạt đến các Đánh giá để đạt đến các 4 Phân tích 3 Ứng dụng Tài nguyên khóa học Giảng viên dành 2 được tổ chức trên E- chủ yếu thời Hiểu learning, học viên gian để giới xem trước và tự mình thiệu nội dung 1 Nhớ Hình 1.2: Mô hình nhận thức LHĐN Phương pháp này đặc biệt phù hợp trong những lớp học mà HS đến từ nhiều ban, có nhận thức và trình độ khác nhau. HS với vốn kiến thức chuyên môn của riêng mình bổ sung những góc nhìn đa chiều làm phong phú thêm nội dung giảng dạy. GV cũng có cơ hội đi sâu sát giải quyết những vấn đề khúc mắc cụ thể của từng HS. Mô hình LHĐN này có tính khả thi cao đối với những HS có khả năng tự học, có kỷ luật và ý chí.
Hiệu quả của phương pháp đã được kiểm chứng từ 14 lâu ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển mạnh mẽ như Australia, Mỹ và các nước châu Âu…Mô hình này không cho phép HS ngồi nghe thụ động nên giảm được sự nhàm chán. Mặc dù vậy, muốn quá trình đảo ngược thành công thì những giáo trình e-Learning phải rất bài bản và hấp dẫn để lôi cuốn được HS không xao nhãng mà tập trung vào việc học. Vì lý do đó, phương pháp này phải gắn chặt với phương pháp e-Learning. Tuy nhiên, mô hình này cũng có những nhược điểm khi vận dụng vào quá trình dạy học do đặc thù của giáo dục và tính cách, kỹ năng của HS.
Nó làm mất nhiều thời gian và công sức cho việc soạn giảng của GV.