Chương 1 - Cơ sở lý thuyết sẽ trình bày lý thuyết về mô hình công nghệ thành tích (HPT). Chương 2 - Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng công tác đánh giá thành tích nhân viên tại Viễn thông Quảng Nam. Chương 3 - Ứng dụng mô hình (HPT) để đánh giá thành tích nhân viên tại Viễn thông Quảng Nam. 6 Kết quả đạt đƣợc Sau khi nghiên cứu giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đánh giá thành tích người lao động và cho cả Viễn thông Quảng Nam, kết quả nghiên cứu đạt được là: - Hoàn thiện công tác đánh giá thành tích.
- Thành tích người lao động được cải thiện so với hiện tại. - Đạt được những thành tích mục tiêu chiến lược trong thời gian tới. 7 Tổng quan t i liệu Mọi tổ chức là một hệ thống thành tích: Luan van 4 - Nó được xây dựng bởi con người. - Nó được vận hành bởi con người và - Nó được thiết lập để cung cấp giá trị cho con người là khách hàng/ các bên hữu quan.
Điều này có nghĩa rằng hệ thống thành tích có thể được xem là quan điểm cơ bản nhất có thể có của bất kỳ tổ chức nào. Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về hoạt động nghiên cứu công nghệ thành tích, phần mô tả dưới đây trình bày tóm tắt qua một số khảo sát, bài báo, sách, tư liệu có liên quan: - Nghiên cứu của Joe Harless(1970) đưa ra thuật ngữ Phân tích trước kết cục (Front-End Analysis), cho rằng nhiều dự án phân tích mà ông tham gia sẽ tốt hơn nếu việc phân tích được thực hiện trước thay vì để đến cuối dự án. Trong thực tế nhiều chương trình đào tạo được triển khai nhưng không phải lúc nào cũng giải quyết được các vấn đề về kết quả thực hiện là do không phân tích trước các kết quả mong muốn - Nghiên cứu của Harold D. - Nghiên cứu của Harless(1986) - HPT là tiến trình lựa chọn, phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá để đạt được hiệu quả cao nhất ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người.
- Nghiên cứu của Jacobs( 1987) - Công nghệ thành tích đại diện cho việc sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống trong một số hình thức khác nhau, phụ thuộc vào mối quan tâm đến vấn đề và yêu cầu hành động. Jacobs làm nổi bật rằng HPT phát triển từ nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm: hệ thống lý thuyết chung, truyền thông, khoa học quản lý, tâm lý học và kinh tế học. Luan van 5 - Nghiên cứu của Theo Hutchison (1989) - Công nghệ thành tích là tập hợp các phương pháp và tiến trình nhằm giải quyết vấn đề hoặc tiếp cận các cơ hội liên quan đến thành tích của con người. Nó có thể áp dụng cho cá nhân, nhóm nhỏ và cả tổ chức lớn.
- Nghiên cứu của Stolovitch và Keeps (1992) - HPT là một kỹ thuật tiếp cận để đạt được sự thực hiện mong đợi từ người đánh giá. Hai ông đã mô tả về HPT như sau: “ HPT là một lĩnh vực thực hành, phát triển trên diện rộng từ kết quả của kinh nghiệm, sự phản ánh, và khái niệm về sự phấn đấu của người thực hành để cải thiện thành tích trong công việc…” - Nghiên cứu của Rothwel(1996) - HPT là tiến trình hệ thống khám phá và phân tích về khoảng cách thành tích, vạch ra kế hoạch cải thiện thành tích trong tương lai, thiết kế và phát triển sự can thiệp hiệu quả để đóng lại khoảng cách ban đầu, thực hiện sự can thiệp và đánh giá kết quả đạt được. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THU ẾT VỀ CÔNG NGHỆ THÀNH TÍCH - HPT 1. KHÁI NIỆM VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH 1.
Đánh giá thành tích là gì? “Đánh giá thành tích là tiến trình đánh giá những đóng góp của nhân viên cho tổ chức trong một giai đoạn"[3] Qua khái niệm trên ta nhận thấy công tác đánh giá thành tích là một hệ thống chính thức, bao gồm cả một tiến trình đánh giá có tính khoa học và hệ thống. Hệ thống đánh giá này được thực hiện theo định kỳ, với các hình thức khác nhau tuỳ theo tính chất công việc, mức độ kinh doanh và quy mô của một tổ chức. Tầm quan trọng của công tác đánh giá th nh tích Đánh giá thành tích là một trong những hoạt động quan trọng trong công tác Quản trị thành tích nói riêng và quản trị nguồn nhân lực nói chung * Đối với người nhân viên: Thông tin phản hồi từ đánh giá thành tích sẽ giúp nhân viên biết được mức độ hoàn thành công việc của mình khi so sánh với tiêu chuẩn mà tổ chức đề ra. * Đối với tổ chức: Thông tin từ công tác đánh giá thành tích nhân viên sẽ là chìa khóa giúp cho công ty có cơ sở để: • Thiết kế công việc và xác định hệ thống công việc nhằm đạt mục tiêu tổ chức.
• Thuê nhân viên với khả năng và ước muốn thực hiện công việc một cách hữu hiệu và có hiệu quả • Đào tạo, động viên, khen thưởng nhân viên về thành tích, hiệu suất công việc. Luan van 7 Chuỗi hành động này cho phép tổ chức truyền đạt mục tiêu chiến lược đến tận từng phòng ban, đơn vị và cá nhân. Như vậy, công tác đánh giá thành tích chính là cơ chế kiểm soát, không những đem lại thông tin phản hồi cho từng cá nhân mà còn đánh giá tổ chức về các phần việc đang tiến hành. Nếu không có thông tin thực hiện công việc, các nhà quản trị không thể biết được liệu rằng nhân viên đang đi đến đúng mục tiêu, theo đúng cách thức và tiêu chuẩn mong muốn hay không? 1.
Vai trò của công tác đánh giá th nh tích a. Đảm bảo sự nhất quán giữa hành vi công việc và chiến lược tổ chức - Đánh giá thành tích đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hành vi mà nhân viên thực hiện trên công việc nhất quán với chiến lược của tổ chức. - Đánh giá thành tích trở thành phương tiện để nhận biết hành vi của nhân viên có nhất quán với mục tiêu chiến lược của tổ chức hay không và trở thành cách thức giúp tổ chức đối phó với các bất ổn, nguy hại đến chiến lược chung của tổ chức. Sự nhất quán giữa hành vi công việc và văn hoá tổ chức - Là công cụ được sử dụng để củng cố giá trị và văn hoá tổ chức, thể hiện qua các chỉ tiêu dùng để đánh giá thành tích nhân viên, là mang màu sắc văn hoá của tổ chức - Là sự liên kết giữa đánh giá với văn hoá của tổ chức, đánh giá thành tích sẽ đảm bảo và điều chỉnh hành vi của nhân viên thể hiện tại nơi làm việc sao cho nhất quán với văn hóa tổ chức.
Nội dung đánh giá th nh tích a. Đánh giá dựa trên đặc điểm Đánh giá dựa trên đặc điểm được sử dụng để đánh giá tính cách hoặc các đặc điểm cá nhân của nhân viên. Loại đánh giá này chú trọng việc tìm hiểu nhân viên là người như thế nào nhưng lại rất ít chú trọng đến những điều mà Luan van 8 họ thực sự làm. Nhƣợc điểm - Có sự giới hạn về tính hợp lý - Các đặc điểm được đánh giá theo loại này không liên quan đến cách thức nhân viên thực sự ứng xử ở công việc - Độ tin cậy của người đánh giá thường là thấp, không hữu hiệu để cung cấp thông tin phản hồi cho nhân viên Ƣu điểm - Đánh giá dựa trên đặc điểm là dễ xây dựng - Thích hợp với những công việc đòi hỏi những đặc điểm cần thiết mà người nhân viên bắt buộc phải có.
Đánh giá dựa trên hành vi Là loại đánh giá chú trọng đến việc xem xét hành vi của nhân viên hơn là đặc điểm cá nhân của họ. Loại đánh giá này được sử dụng để nhấn mạnh đến cách thức hoàn thành công việc của mỗi người nhân viên, đánh giá dựa trên những điều mà họ thực hiện tại công việc. Nhƣợc điểm - Không khuyến khích nhân viên phấn đấu đạt kết quả công việc cao - Chỉ thích hợp với một số công việc mà thành tích tốt chỉ có thể đạt được thông qua việc sử dụng các hành vi khác nhau. Ƣu điểm - Được sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp và dễ được chấp nhận hơn - Khuyến khích tính sáng tạo và sự hợp tác trong công việc - Thích hợp trong việc đưa ra những thông tin phản hồi một cách chính xác những điều nhân viên nên làm c.
Đánh giá dựa trên kết quả Luan van 9 Đánh giá dựa trên kết quả sẽ thích hợp khi mà cách thức sử dụng để đạt được kết quả là không quan trọng hoặc khi có nhiều cách thức để hoàn thành công việc. Thích hợp với những trường hợp thành tích của mỗi công việc được sử dụng để đánh giá giữa các nhân viên cùng làm một công việc giống nhau, ngay cả khi họ đạt cùng một kết quả nhưng sử dụng nhiều phương tiện khác nhau. Nhƣợc điểm - Không đề cập đến các khía cạnh của thành tích chẳng hạn như sự hợp tác, không hữu ích ở góc độ phát triển nhân viên. - Có thể nuôi dưỡng một trạng thái tâm lý “có kết quả bằng bất cứ giá nào” Ƣu điểm - Tạo ra được một chuẩn mực về kết quả công việc để đánh giá nhân viên - Dễ áp dụng, đơn giản, nhanh chóng, không đòi hỏi về trình độ người đánh giá 1.1 5 Các phƣơng pháp đánh giá th nh tích a.
Đánh giá khách quan Đánh giá khách quan là cách đánh giá thành tích dưới góc độ các con số, chẳng hạn như số lượng sản phẩm mà nhân viên làm ra hoặc tiêu thụ, số các sản phẩm khuyết tật, số lần vắng mặt hoặc đi làm trễ. Tuy nhiên không có tiêu chuẩn nào là khách quan hoàn toàn. Có 5 loại chính của đánh giá khách quan là: đánh giá số lượng sản xuất, doanh số bán, dữ liệu nhân sự, trắc nghiệm thành tích và đánh giá đơn vị kinh doanh. Đánh giá chủ quan Đánh giá chủ quan được sử dụng để đánh giá hành vi hoặc đặc điểm cá nhân cũng như kết quả.
Vấn đề chính của đánh giá thành tích chủ quan là Luan van 10 người đánh giá phải quan sát và đánh giá hành vi liên quan đến công việc. Việc đánh giá có thể bị sai lệch xuất phát từ người đánh giá. Có 8 loại đánh giá như: xếp hạng, so sánh cặp, phân phối trọng số, thang điểm đánh giá, liệt kê kiểm tra, kỹ thuật sự kiện điển hình, thang điểm đánh giá hành vi và thang quan sát hành vi.