Đặt vấn đề Ngày nay thế giới đã và đang đứng trước nguy cơ bùng nổ dân số từ đó dẫn đến khủng hoảng về lương thực, năng lượng, tài nguyên và môi trường. Những khủng hoảng này gây ảnh hưởng lớn đến tất cả các thành phần môi trường, làm cho chất lượng sống của con người có nguy cơ bị suy giảm. Môi trường đang là 1 vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm. Có thể nói thế giới đang phải đứng trước nguy cơ khủng hoảng môi trường ngày càng lan rộng, mà nguyên nhân chính là con người.
Tuy nhiên cũng chỉ có con người mới có thể khắc phục được tình trạng này. Khắc phục khủng hoảng môi trường chính là góp phần cải thiện và phát triển chất lượng sống của con người. Cùng với sự phát triển của thế giới, với chủ chương công nghiệp hóa hiện đại hóa của đảng và nhà nước đã thúc đẩy đầu tư, tăng cường khai thác tài nguyên và phát triển các ngành công nghiệp đã và đang ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên; gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng sống và phát triển bền vững của đất nước. Để đánh giá một cách đầy đủ và tổng thể hiện trạng, diễn biến môi trường trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn; hậu quả của ô nhiễm môi trường, bao gồm: thiệt hại đối với sức khỏe cộng đồng, thiệt hại về kinh tế, thiệt hại đối với các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái nông nghiệp; những vấn đề môi trường bức xúc và điểm nóng về môi trường cần ưu tiên giải quyết; các hoạt động của cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường; đồng thời là cơ sở để đánh giá chính sách, quy định về môi trường để các cấp chính quyền, nhà quản lý định hướng phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững và có các chính sách, cơ chế phù hợp để duy trì phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Việc sử dụng mô hình DPSIR sẽ xác định rõ các loại chỉ thị môi trường để có thể đánh giá được hiện trạng môi trường, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường và có những biện pháp tác động hiệu quả đến hoạt động gây ô nhiễm môi trường. 2 Điện Biên là một huyện nằm ở phía tây nam tỉnh Điện Biên, phía bắc giáp huyện Mường Lay, phía tây và nam giáp Lào, phía đông giáp huyện Điện Biên Đông. Thành phố Điện Biên Phủ nằm lọt trong huyện này ở phía đông bắc. Tại đây có cửa khẩu Tây Trang (xã Na Ư) với Lào.
Huyện Điện Biên có diện tích tự nhiên là 163.067 người, bao gồm 8 dân tộc. Hiện nay hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch và khu dân cư trên địa bàn huyện đã nảy sinh những tác động đến môi trường như rác thải, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt. đòi hỏi các biện pháp bảo vệ và quản lý môi trường hiệu quả để ngăn ngừa và khắc phục những tác động xấu đến sức khỏe con người và tài nguyên thiên nhiên. Xuất phát từ những yêu cầu trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo PGS.
Đỗ Thị Lan, em tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng mô hình DPSIR trong việc nghiên cứu xây dựng chỉ thị môi trường tại huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên” 1. Mục tiêu nghiên cứu Sử dụng mô hình DPSIR để xác định, xây dựng các chỉ thị môi trường và các vấn đề liên quan đến công tác quản lý bảo vệ môi trường tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Mục đính nghiên cứu - Nghiên cứu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. - Xác định, xây dựng các chỉ thị môi trường dựa vào phân tích mô hình DPSIR.
- Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Đề tài là cầu nối giữa những kiến thức lý thuyết mà sinh viên đã học được với thực tế. - Tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận trực tiếp với để hiểu rõ hơn về các kiến thức đã học được trong sách vở và áp dụng lý thuyết vào thực tế. 3 - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế phục phụ cho công tác sau khi ra trường.
- Là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu khoa học.2 Ý nghĩa thực tiễn - Là cơ sở để lựa chọn và áp dụng các biện pháp quản lý môi trường phù hợp với điều kiện của địa phương. Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ môi trường tại khu vực sinh sống. - Đánh giá hiện trạng môi trường, xác định được những tác động, áp lực gây ô nhiễm tại địa phương và mức độ ảnh hưởng của chúng. - Xây dựng được bộ chỉ thị môi trường phục phụ cho công tác đánh giá chất lượng môi trường, quy hoạch môi trường và quản lý môi trường.
4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số khái niệm - Môi trường gồm nhân tố vật chất do con người tạo ra và tự nhiên xung quanh chúng ta tác động đến cuộc sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người, sinh thể sống. (Luật Bảo vệ môi trường 2005)[8] - Bảo vệ môi trường gồm các hoạt động bảo vệ cho một môi trường xanh, sạch, đẹp, nâng cao chất lượng môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn và giải quyết được các tác động của con người và tự nhiên đến môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý, một cách có kinh tế nguồn tài nguyên thiên nhiên.
(Luật Bảo vệ môi trường 2005)[8] - Ô nhiễm môi trường là việc làm biến đổi tài sản của môi trường, tác động xấu và phá vỡ các tiêu chuẩn môi trường. (Luật Bảo vệ môi trường 2005)[8] - Suy thoái môi trường là việc gây tác động xấu đến các yếu tố cấu thành môi trường cả về mặt lượng và chất, tác động xấu đến cuộc sống con người và tự nhiên. (Luật Bảo vệ môi trường 2005)[8] - Báo cáo hiện trạng môi trường là báo cáo cung cấp các thông tin về hiện trạng và diễn biến môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và tác động tới sức khỏe con người, kinh tế xã hội, hệ sinh thái và môi trường tự nhiên, từ đó phân tích nhu cầu xây dựng các chính sách môi trường và hiệu quả của các chính sách đó. (Thông tư 08/2010/TT - BTNMT) [2] - Theo UNEP: Chỉ thị môi trường (Environmeltal Indicator) là một độ đo tập hợp một số số liệu về môi trường ngành một thông tin tổng hợp về một khía cạnh của một quốc gia hoặc một địa phương.
- Chỉ thị môi trường: Là thông số cơ bản phản ánh các yếu tố đặc trưng của môi trường phục vụ mục đích đánh giá, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường. (Thông tư 08/2010/TT - BTNMT) [2] - Các loại chỉ thị môi trường theo mô hình DPSIR 5 loại chỉ thị môi trường sau: + Các chỉ thị về động lực (D) phát triển kinh tế - xã hội, gây biến đổi áp lực đối với môi trường. + Các chỉ thị về áp lực (P) về chất thải ô nhiễm gây biến đổi hiện trạng môi trường. + Các chỉ thị về hiện trạng (S) môi trường (chất lượng/ô nhiễm môi trường).
+ Các chỉ thị về tác động (I) của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe, cuộc sống của con người, đối với các hệ sinh thái và đối với kinh tế - xã hội. + Các chỉ thị về đáp ứng (R) của nhà nước, xã hội và con người (chính sách, biện pháp, hành động) nhằm giảm thiểu các động lực, áp lực, gây biến đổi môi trường. (Thông tư 09/2009/TT - BTNMT)[1] - Trong mô hình DPSIR đối với nghiên cứu hiện trạng môi trường quốc gia hoặc bộ, ngành, địa phương các chỉ thị có thể phân theo nhóm (loại) sau: + Chỉ thị mô tả: Mô tả mức độ gia tăng của các yếu tố về nhân lực, thiết bị, phương tiện…có thể gây ra các áp lực về môi trường. + Chỉ thị đánh giá hoạt động: Bao gồm các chỉ thị phản ánh sự thay đổi chất lượng môi trường do các hoạt động của địa phương đó gây ra.
+ Chỉ thị hiệu quả: Phản ánh mối quan hệ trong chuỗi nhân quả giữa các thành phần trong mô hình DPSIR. Chỉ thị hiệu quả phù hợp nhất cho quá trình hoạch định chính sách là các chỉ thị liên quan giữa áp lực môi trường (P) và các hoạt động của con người (D). Những chỉ thị này cho thấy rõ tính hiệu quả môi trường của quy trình sản xuất và của chính các sản phẩm, ví dụ hiệu quả trong sử dụng tài nguyên, lượng phát thải, chất thải trên mỗi đơn vị sản lượng. + Chỉ thị đáp ứng: Phản ánh hành động đáp ứng của đơn vị trong quản lý môi trường, cải thiện chất lượng môi trường.
6 + Chỉ thị đánh giá độ bền vững môi trường: Là tập hợp nhiều thông số đặc trưng về môi trường cho phép đánh giá tổng hợp tình trạng môi trường của đơn vị nào đó. + Chỉ thị đề mục: Chỉ thị này không nêu số lượng, hiệu quả của một hành động nào mà chỉ nêu tên (Đề mục) của hành động hoặc vấn đề cần đề cập trong báo cáo hiện trạng môi trường (HTMT). Cơ sở pháp lý Một số văn bản pháp lý có liên quan về mô hình DPSIR và ứng dụng trong việc nghiên cứu chỉ thị môi trường: - Luật bảo vệ môi trường Việt Nam số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội. - Luật Bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 30/12/2004 của Quốc hội.
- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội. - Nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của chính phủ Quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều luật của Luật bảo vệ môi trường. - Nghị định 21/2008/NĐ - CP ngày 28/02/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường. - Nghị định 117/2009/NĐ - CP ngày 31/12/2009 quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.