Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh gia tăng dân số, đô thị hóa và công nghiệp hóa - hiện đại hóa, các hoạt động kinh tế - xã hội thúc đẩy khai thác tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến nguy cơ mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên và suy thoái chất lượng môi trường. Việc theo dõi, đánh giá diễn biến môi trường và tác động của ô nhiễm đến sức khỏe cộng đồng cũng như hệ sinh thái đòi hỏi công cụ quản lý có tính tổng hợp, làm rõ chuỗi nguyên nhân - kết quả để hỗ trợ ra quyết định chính sách. Mô hình DPSIR (Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng) được áp dụng nhằm lượng hóa, xây dựng các chỉ thị môi trường phục vụ công tác lập báo cáo hiện trạng môi trường và quy hoạch môi trường bền vững.

Huyện Điện Biên là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh Điện Biên, có đường biên giới giáp Lào qua cửa khẩu Tây Trang (xã Na Ư) và bao quanh thành phố Điện Biên Phủ. Địa bàn huyện có cánh đồng Mường Thanh và hai trục thủy văn chính là sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa. Sự phát triển đồng thời của nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại và các cụm dân cư đã làm phát sinh lượng chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất chưa qua xử lý đồng bộ, tạo sức ép lên môi trường tự nhiên.

Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Sử dụng mô hình DPSIR để xác định, xây dựng các chỉ thị môi trường và các vấn đề liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
  • Nhiệm vụ/Mục đích nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
    2. Xác định và xây dựng hệ thống các chỉ thị môi trường dựa vào phân tích chuỗi mô hình DPSIR.
    3. Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội của vùng; hiện trạng chất lượng môi trường (nước, đất, không khí); các biện pháp, chính sách quản lý môi trường đang áp dụng tại địa phương.
  • Phạm vi không gian: Huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (khảo sát thực địa đại diện tại 4 xã thuộc 4 vùng đặc thù: xã Pom Lót, xã Noong Hẹt, xã Thanh Xương và xã Mường Phăng; thu thập dữ liệu tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện Biên).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý

  • Khái niệm nền tảng: Đề tài sử dụng hệ thống khái niệm về môi trường, bảo vệ môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường 2005; khái niệm báo cáo hiện trạng môi trường và chỉ thị môi trường theo quy định của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Thông tư 08/2010/TT-BTNMT, Thông tư 09/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Mô hình DPSIR: Mô hình Phương pháp Đánh giá Tổng hợp DPSIR do Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA) phát triển năm 1999 từ khung PSR (Pressure - State - Response) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Khung DPSIR gồm 5 thành phần có mối quan hệ tương tác hai chiều:
    • Động lực (Driving Forces - D): Các hoạt động kinh tế - xã hội, tăng trưởng dân số, giao thông, sản xuất nông - công nghiệp.
    • Áp lực (Pressures - P): Lưu lượng và nồng độ các chất phát thải vào môi trường đất, nước, không khí, khai thác tài nguyên.
    • Hiện trạng (State - S): Chất lượng vật lý, hóa học, sinh học của các thành phần môi trường.
    • Tác động (Impacts - I): Hậu quả tiêu cực tới sức khỏe con người, hệ sinh thái, suy giảm tài nguyên và thiệt hại kinh tế.
    • Đáp ứng (Responses - R): Các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, biện pháp quản lý, công nghệ và sự tham gia của cộng đồng nhằm kiểm soát áp lực và cải thiện chất lượng môi trường.
  • Văn bản pháp lý áp dụng: Luật Bảo vệ môi trường 2005; Luật Đất đai 2003; Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004; các Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP; Thông tư 09/2009/TT-BTNMT; Thông tư 10/2009/TT-BTNMT; Thông tư 08/2010/TT-BTNMT; Thông tư 26/2011/TT-BTNMT; QCVN 08:2008/BTNMT (Chất lượng nước mặt); Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Quyết định 256/2003/QĐ-TTg và Quyết định 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp kế thừa: Thu thập, kế thừa các báo cáo thống kê đất đai, báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu khí tượng thủy văn và các văn bản quản lý lưu trữ tại Ủy ban nhân dân và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện Biên.
  • Phương pháp điều tra, thu thập thông tin bằng phiếu hỏi: Phân chia địa bàn huyện thành 4 khu vực đại diện (Khu trung tâm, Khu vùng cao, Khu sản xuất thuần nông, Khu chọn ngẫu nhiên) và khảo sát ngẫu nhiên 30 hộ gia đình tại mỗi xã đại diện (xã Pom Lót, xã Noong Hẹt, xã Thanh Xương, xã Mường Phăng), tổng quy mô mẫu điều tra là 120 hộ gia đình.
  • Phương pháp phân tích, thống kê và liệt kê: Thống kê, phân loại và xử lý dữ liệu thu được từ phiếu điều tra về nguồn nước, tình hình phát thải, phương thức xử lý rác thải và nhận thức môi trường.
  • Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá: Phân tích, so sánh các chỉ số thực trạng môi trường và đánh giá hiệu quả cung cấp thông tin giữa mô hình DPSIR với các mô hình S và PSR.
  • Phương pháp mô hình hóa DPSIR: Thiết lập chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa 5 hợp phần (D-P-S-I-R) theo từng lĩnh vực hoạt động tại địa phương.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong công tác bảo vệ môi trường gắn với phát triển bền vững tại địa phương; xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục đích cụ thể; nêu rõ ý nghĩa học tập, nghiên cứu khoa học và ý nghĩa thực tiễn của việc xây dựng bộ chỉ thị môi trường phục vụ công tác quy hoạch, quản lý môi trường tại huyện Điện Biên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Phân tích cơ sở khoa học và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam liên quan đến quản lý chỉ thị môi trường và lập báo cáo hiện trạng môi trường.
  • Khái quát lịch sử phát triển của các mô hình đánh giá môi trường từ mô hình trạng thái đơn lẻ (S), mô hình Áp lực - Hiện trạng - Đáp ứng (PSR) của OECD/UNEP đến mô hình 5 hợp phần (DPSIR) của EEA và Viện NEIR Đan Mạch.
  • So sánh năng lực cung cấp thông tin của các mô hình báo cáo hiện trạng môi trường (S, PSR và DPSIR), khẳng định tính chi tiết của DPSIR trong việc phân tích nguyên nhân gốc rễ (Động lực) và hậu quả (Tác động).
  • Tổng quan tình hình ứng dụng mô hình DPSIR trên thế giới và tại Việt Nam trong xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường cấp quốc gia, cấp tỉnh và theo lưu vực sông.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

  • Quy định rõ đối tượng nghiên cứu là điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng các thành phần môi trường và hệ thống chính sách quản lý tại huyện Điện Biên.
  • Xác định địa điểm thực hiện tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện Biên và thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.
  • Thiết lập quy trình 5 bước phân tích chuỗi DPSIR: Xác định động lực $\rightarrow$ Xác định thông số áp lực $\rightarrow$ Đánh giá hiện trạng môi trường $\rightarrow$ Xác định tác động $\rightarrow$ Đánh giá các biện pháp đáp ứng.
  • Trình bày phương pháp chọn mẫu khảo sát xã hội học với 120 phiếu điều tra tại 4 xã đại diện cho 4 vùng sinh thái - kinh tế của huyện.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội:
    • Về tự nhiên: Huyện có 25 xã, diện tích tự nhiên 163.963,03 ha; địa hình chia thành 2 vùng rõ rệt (vùng lòng chảo gồm 12 xã trên cánh đồng Mường Thanh và vùng ngoài gồm 13 xã đồi núi cao); chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Nậm Rốm và Nậm Núa.
    • Về kinh tế - xã hội: Dân số năm 2013 là 110.067 người (26.368 hộ), gồm 8 dân tộc (dân tộc Thái chiếm 52,83%, Kinh chiếm 27,04%, H’Mông 9,97%, Khơ Mú 5,59%, Lào 2,85%, khác); tăng trưởng kinh tế năm 2011 đạt 12,5%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch với tỷ trọng nông nghiệp 38,03%, công nghiệp - xây dựng 28,52%, dịch vụ - thương mại 33,45%.
  • Hiện trạng môi trường huyện Điện Biên:
    • Môi trường nước: Nguồn cấp nước sinh hoạt khảo sát tại 120 hộ chủ yếu là nước giếng đào/khoan (80 hộ) và nước máy (20 hộ); nước mặt sông Nậm Rốm và Nậm Núa bị ô nhiễm nhẹ do nước thải sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp xả trực tiếp.
    • Môi trường đất: Chất lượng đất canh tác suy giảm do lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật và không có biện pháp cải tạo đất phù hợp; diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng.
    • Môi trường không khí: Ô nhiễm cục bộ nhẹ do bụi và khí thải từ hoạt động giao thông, chăn nuôi gia súc hộ gia đình và các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
  • Phân tích mô hình DPSIR và xây dựng bộ chỉ thị:
    • Xác định 5 động lực (Driver) chi phối môi trường huyện gồm: Dân số, Nông nghiệp, Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, Thương mại và dịch vụ, Trình độ dân trí.
    • Phân tích chuỗi liên kết nhân quả chi tiết cho từng động lực và đề xuất hệ thống chỉ thị tương ứng qua 5 bảng danh mục (Chỉ thị Động lực D, Chỉ thị Áp lực P, Chỉ thị Hiện trạng S, Chỉ thị Tác động I, Chỉ thị Đáp ứng R).
  • Đề xuất giải pháp quản lý: Đưa ra 3 nhóm giải pháp cụ thể gồm nhóm giải pháp về quản lý môi trường, nhóm giải pháp kinh tế - xã hội, và nhóm giải pháp tuyên truyền - giáo dục - đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng quan về việc ứng dụng thành công mô hình DPSIR trong việc lượng hóa thông tin môi trường và kiến nghị với các cơ quan quản lý về việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quan trắc, tăng cường năng lực cán bộ và triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường tại huyện Điện Biên.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng và phát hiện chính

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế về điều kiện tự nhiên, cơ cấu kinh tế - xã hội và hiện trạng môi trường huyện Điện Biên thông qua tài liệu quản lý và dữ liệu điều tra thực địa:

Hạng mục cơ cấu sử dụng đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất Nông nghiệp 138.047,97 84,19
Đất Phi Nông nghiệp 6.802,02 4,15
Đất chưa sử dụng 19.113,04 11,66
Tổng diện tích tự nhiên 163.963,03 100,00

Nguồn nước cấp sinh hoạt của 120 hộ gia đình tại 4 xã nghiên cứu:

  • Nước giếng (đào, khoan): 80 hộ (chiếm 66,67%)
  • Nước máy: 20 hộ (chiếm 16,67%)
  • Nước sông, suối: 15 hộ (chiếm 12,50%)
  • Kết hợp nước máy và nước giếng: 5 hộ (chiếm 4,16%)
  • Nước mưa: 0 hộ

So sánh khả năng cung cấp thông tin của các mô hình môi trường theo phân tích của tác giả:

Nội dung thông tin môi trường Mô hình S Mô hình PSR Mô hình DPSIR
Nguyên nhân/Động lực phát triển kinh tế - xã hội Không có Không chi tiết Chi tiết
Các áp lực chất thải và sử dụng tài nguyên Không chi tiết Chi tiết Chi tiết
Hiện trạng các thành phần môi trường (đất, nước, khí) Chi tiết Chi tiết Chi tiết
Tác động tới sức khỏe con người, hệ sinh thái, kinh tế Không có Không chi tiết Chi tiết
Biện pháp đáp ứng, chính sách, quản lý môi trường Không có Chi tiết Chi tiết

Hệ thống chỉ thị môi trường đề xuất

Nghiên cứu đã xây dựng bộ chỉ thị phân chia theo 5 nhóm hợp phần của mô hình DPSIR:

  • Chỉ thị Động lực (D): Quy mô dân số (110.067 người), tốc độ tăng dân số (1,18%), cơ cấu lao động nông nghiệp (58,8%), giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng (742,080 tỷ đồng năm 2013), tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ (850,832 tỷ đồng).
  • Chỉ thị Áp lực (P): Tải lượng nước thải sinh hoạt và sản xuất, lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên diện tích lúa (13.204,8 ha), số lượng gia súc chăn nuôi (đàn lợn 64.719 con, đàn trâu 23.233 con), tỷ lệ hộ xả nước thải ra cống rãnh chung và môi trường tự nhiên.
  • Chỉ thị Hiện trạng (S): Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mặt sông Nậm Rốm và Nậm Núa, chỉ tiêu BOD5, COD; mức độ phì nhiêu và thoái hóa đất; các thông số bụi, khí thải trong không khí tại các cụm dân cư và trục giao thông.
  • Chỉ thị Tác động (I): Tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến vệ sinh môi trường qua số liệu khám chữa bệnh (191.893 lượt khám năm 2013); mức độ suy giảm năng suất cây trồng do suy thoái đất; mức độ cạn kiệt nguồn nước giếng vào mùa khô.
  • Chỉ thị Đáp ứng (R): Tỷ lệ hộ dùng điện an toàn (94%), tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia (65,6%), tỷ lệ thôn bản văn hóa (60,66%), các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, nước sạch nông thôn và các quy định quản lý của UBND huyện.

Giải pháp tác giả đề xuất

  1. Nhóm giải pháp về quản lý: Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường tại cấp huyện và xã; thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường tại các cơ sở chế biến, tiểu thủ công nghiệp; tích hợp chỉ thị môi trường vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  2. Nhóm giải pháp về kinh tế - xã hội: Đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải tập trung tại khu vực lòng chảo; khuyến khích mô hình nông nghiệp sinh thái, giảm thiểu phân bón hóa học; quy hoạch các điểm tập kết và xử lý rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh.
  3. Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Phổ biến kiến thức pháp luật môi trường cho người dân; hướng dẫn kỹ thuật xử lý chất thải chăn nuôi (hầm biogas), thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong việc giữ gìn vệ sinh thôn bản.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã hệ thống hóa phương pháp luận ứng dụng mô hình DPSIR ở cấp địa phương, cụ thể hóa các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường vào một địa bàn đặc thù miền núi. Đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực chứng và thiết lập khung chỉ thị môi trường có khả năng áp dụng trực tiếp cho công tác xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường định kỳ tại huyện Điện Biên.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô điều tra thực địa giới hạn ở 120 hộ gia đình tại 4 xã đại diện, chưa thể bao quát toàn bộ 25 xã trên toàn địa bàn huyện Điện Biên.
    • Thời gian nghiên cứu ngắn (4 tháng, từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014), chủ yếu dựa trên số liệu thứ cấp có sẵn và đánh giá định tính qua phỏng vấn người dân; các chỉ tiêu phân tích hóa lý môi trường nước, đất, không khí chưa được tổ chức đo đạc quan trắc liên tục theo các mùa trong năm.
    • Việc định lượng mối quan hệ giữa các hợp phần Động lực - Áp lực - Tác động chưa được mô hình hóa bằng các thuật toán phức tạp do hạn chế về nguồn lực dữ liệu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra khảo sát đến các xã vùng sâu, vùng biên giới; thiết lập hệ thống trạm quan trắc định kỳ để cập nhật chuỗi số liệu định lượng về chất lượng nước, đất, không khí theo thời gian thực; chuẩn hóa và lượng hóa các chỉ số theo công thức toán học để nâng cao độ chính xác trong dự báo diễn biến môi trường.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn trong các trường hợp sau:

  • Đối với sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường và Quản lý Tài nguyên - Môi trường: Tài liệu cung cấp ví dụ thực tế về phương pháp luận và các bước xây dựng bộ chỉ thị môi trường cấp huyện theo mô hình DPSIR; cách thức tích hợp văn bản pháp quy (Thông tư 08/2010/TT-BTNMT, Thông tư 09/2009/TT-BTNMT) vào đề tài nghiên cứu.
  • Đối với cán bộ quản lý môi trường cấp huyện, tỉnh: Tham khảo cơ cấu phân tích 5 hợp phần (D-P-S-I-R) và các bảng danh mục chỉ thị thực tế để ứng dụng trong việc xây dựng Báo cáo Hiện trạng Môi trường định kỳ, lập kế hoạch quản lý chất thải và bảo vệ lưu vực sông Nậm Rốm, Nậm Núa.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng so sánh tính năng của các mô hình S, PSR, DPSIR (Phần 2) và quy trình thiết lập chuỗi chỉ thị nhân quả từ 5 động lực phát triển kinh tế - xã hội huyện Điện Biên (Phần 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình DPSIR gồm những thành phần nào và do tổ chức nào công bố?

Mô hình DPSIR gồm 5 thành phần có mối quan hệ tương tác hai chiều: Động lực (Driving force - D), Áp lực (Pressure - P), Hiện trạng (State - S), Tác động (Impact - I) và Đáp ứng (Response - R). Mô hình này do Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA) xây dựng và công bố vào năm 1999 dựa trên sự phát triển từ mô hình PSR của OECD.

2. Đặc điểm địa hình huyện Điện Biên được phân chia như thế nào trong khóa luận?

Địa hình huyện Điện Biên được chia thành hai vùng rõ rệt:

  • Vùng lòng chảo: Gồm 12 xã (Thanh Nưa, Thanh Luông, Thanh Chăn, Thanh Hưng, Thanh Yên, Noong Luống, Sam Mứn, Pom Lót, Noong Hẹt, Thanh An, Thanh Xương, Pá Khoang) nằm trên cánh đồng Mường Thanh, địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho sản xuất lúa nước, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
  • Vùng ngoài: Gồm 13 xã (Mường Phăng, Nà Tấu, Nà Nhạn, Mường Pồn, Núa Ngam, Hua Thanh, Hẹ Muông, Na Tông, Phu Luông, Pa Thơm, Na Ư, Mường Nhà, Mường Lói) phân bố xung quanh vùng lòng chảo, địa hình chủ yếu là núi cao chia cắt mạnh, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp.

3. Tác giả đã xác định 5 động lực (Driver) chính chi phối môi trường tại huyện Điện Biên là gì?

Dựa trên đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Điện Biên, 5 động lực chi phối quan trọng được xác định gồm:

  1. Dân số (quy mô 110.067 người năm 2013, phân bố không đều, tỷ lệ tăng tự nhiên 1,18%).
  2. Nông nghiệp (trồng trọt lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm).
  3. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (giá trị sản xuất đạt 742,080 tỷ đồng năm 2013, chủ yếu là chế biến và khai khoáng).
  4. Thương mại và dịch vụ (doanh thu bán lẻ và dịch vụ đạt 850,832 tỷ đồng).
  5. Trình độ dân trí (tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30%, phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt).

4. Kết quả khảo sát thực tế về nguồn nước cấp sinh hoạt tại 4 xã nghiên cứu như thế nào?

Khảo sát 120 hộ gia đình tại 4 xã (Pom Lót, Noong Hẹt, Thanh Xương, Mường Phăng) cho thấy: 80 hộ sử dụng nước giếng (đào/khoan), 20 hộ sử dụng nước máy, 15 hộ sử dụng nước sông suối, 5 hộ kết hợp nước máy và nước giếng, và 0 hộ sử dụng nước mưa. Vào mùa khô, một số hộ bị thiếu nước cục bộ do giếng đào nông hoặc mạng lưới nước máy chưa bao phủ hết.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hồng Loan đã ứng dụng phương pháp luận DPSIR để phân tích chuỗi quan hệ nhân quả giữa hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi môi trường tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Trên cơ sở khảo sát 120 hộ dân tại 4 xã đại diện và dữ liệu quản lý năm 2011 - 2013, đề tài đã xác định 5 động lực chi phối và đề xuất hệ thống chỉ thị môi trường tương ứng theo 5 hợp phần (D-P-S-I-R). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tế và tài liệu tham khảo cho công tác lập báo cáo hiện trạng môi trường, đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp quản lý, kỹ thuật và tuyên truyền nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tại địa phương.