CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đất đai và giá trị đất đai 1. Khái niệm và vai trò của đất đai 1. Khái niệm đất đai Có rất nhiều khái niệm cề đất đai, định nghĩa theo nhiều quan điểm như thông qua chức năng của nó, như khái niệm đất đai được xác định trong Luật Đất đai “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng” (Luật đất đai, 2013)[13].
Theo luận văn tiến sĩ của Trần Thanh Hùng thì các khái niệm này được phân biệt như sau (Trần Thanh Hùng, 2011)[11]: - Lãnh thổ là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc trong không gian và thời gian xác định, thuộc phạm trù địa lý - dân tộc. - Đất là lớp bề mặt trái đất hiểu theo nghĩa rộng hơn so với khái niệm thổ nhưỡng, thuộc phạm trù địa lý - tự nhiên. - Đất đai là sự vật địa lý - kinh tế, kết quả của mối quan hệ tổng hoà giữa đất và hoạt động kinh tế xã hội của con người trong cộng đồng dân tộc trên một lãnh thổ nhất định. Về mặt không gian thì đất đai bao gồm cả phần diện tích bề mặt với không gian bên trên và bề sâu trong lòng đất.
Đất đai được hiểu ở góc độ tổng thể là trái đất hay trong phạm vi một không gian giới hạn, như trong phạm vi lãnh thổ quốc gia là quỹ đất đai quốc gia, trong phạm vi địa giới hành chính là quỹ đất đai của cấp hành chính tương ứng, trong phạm vi ranh giới địa chính là quỹ đất đai của chủ thể sử dụng đất đai (Trịnh Hữu Liên, Hoàng Văn Hùng, 2013)[14]. Vai trò và đặc điểm đất đai Đất đai có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống con người. Khó mà hình dung được sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia mà không có đất đai. Trong nền kinh tế thị trường, đất đai càng trở thành yếu tố cơ bản không thể n 5 thiếu trong quá trình sản xuất và đời sống.
Chúng ta có thể khái quát vai trò quan trọng của đất đai qua những khía cạnh cơ bản sau: (i) Đất đai là một trong các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng quyết định đến sự phân bố dân cư lao động. (ii) Đất đai tạo ra môi trường sống cho con người. (iii) Đất đai là cơ sở để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, cơ sở sản xuất kinh doanh, đảm bảo chính trị, an ninh, quốc phòng quốc gia. (iv) Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất xã hội.
Giá trị đất đai Trong thị trường, giá cả của đất đai được hình thành thông qua quan hệ cung cầu. Khi có sự cân bằng cung cầu trên thị trường hình thành giá cả cân bằng thị trường của đất đai. Giá cả cân bằng này sẽ thay đổi khi có sự mất cân đối cung cầu: giá giảm khi cung lớn hơn cầu và tăng khi cung nhỏ hơn cầu trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường (Trịnh Hữu Liên, 2010)[18].
Có thể nói sự tương tác cung cầu về hàng hóa đất đai xác định giá cả của một đơn vị hàng hóa đất đai PT. Theo Trần Thanh Hùng và các tác giả (2008), giá cả thị trường của một thửa đất cụ thể được xác định bằng công thức: P = PT x Y, với Y = f(VT, CL). Trong đó, -P: giá thị trường của bất động sản - PT : giá của một đơn vị hàng hóa bất động sản - Y: số đơn vị hàng hóa bất động sản - VT: vị thế của bất động sản - CL: chất lượng của bất động sản n 6 Theo quan điểm kinh tế học hiện đại được trình bày trong các lý thuyết marketing, thì giá trị của một hàng hóa gồm có giá trị hữu hình và giá trị vô hình. Giá trị hữu hình là giá trị vật chất phụ thuộc vào chi phí sản xuất vật chất sản phẩm hàng hóa; giá trị vô hình phụ thuộc vào tâm lý người tiêu dùng, phụ thuộc vào tâm tư, nguyện vọng và ước muốn của con người, phụ thuộc vào vị thế của thương hiệu hàng hóa ngự trị trong tâm trí người tiêu dùng (Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2005).
Giá trị hữu hình của đất đai ứng với các thuộc tính không gian (diện tích, hình thể, vị trí) cùng với các đặc điểm về địa hình, địa mạo, địa chất, địa chấn và các tính chất sinh lý hoá của đất kết hợp với giá trị đầu tư phát triển hạ tầng đất đai. Giá trị vô hình của đất đai ứng với vị thế xã hội của đất đai (Trịnh Hữu Liên, 2013)[17]. Các hình thái của giá trị đất đai Giá trị chỉ có một nhưng biểu hiện trong những tình huống và mục đích khác nhau thì sẽ xuất hiện nhiều hình thái khác nhau. Trong thực tế thường gặp các loại giá trị như: giá trị cảm nhận, giá trị tài chính, giá rao bán, giao rao mua, giá mua bán và giá thị trường [20][22].
Giá trị cảm nhận ứng với lợi ích cảm nhận được từ các thuộc tính vật lý và xã hội của đất đai, phản ánh trạng thái tâm sinh lý của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, có các loại hình giá trị cảm nhận như giá trị tình cảm, giá trị thẩm mỹ, giá trị nghệ thuật, giá trị nhận thức. Giá trị tài chính phản ánh hành vi trao đổi của con người để có được sản phẩm hay sẵn sàng từ bỏ sự thỏa mãn khi tiêu dùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Giá trị tài chính liên quan chặt chẽ với giá trị cảm nhận, mối quan hệ này được minh họa bằng bản đồ giá trị (Hình 1. Đường cân bằng VEL phản ánh quy luật tiền nào của nấy.
Giá trị tài chính biểu hiện thông qua các loại giá cả: giá rao mua, giá rao bán, giá mua bán và giá cả thị trường. 1: Bản đồ giá trị Thông thường giá rao bán thường cao hơn giá trị tài chính cân bằng và giá rao mua lại thấp hơn giá trị tài chính theo quy luật mua rẻ bán đắt [21]. Giá mua bán dao động xung quanh giá trị tài chính, nằm trong khoảng giữa giá rao bán và giá rao mua, phụ thuộc vào khả năng cảm nhận về lợi ích thu được từ đất đai. Cùng một thửa đất thì lợi ích cảm nhận được hoàn toàn khác nhau đối với mỗi cá nhân con người.
Mỗi người có một hoàn cảnh sống khác nhau, vị thế xã hội khác nhau, thì có sự nhận định khác nhau về mức độ quan trọng và lợi ích của thửa đất đó, nên đánh giá khác nhau về giá trị tài chính. Giá mua bán được hình thành trong các tình huống giao dịch cụ thể, mang tính phải chăng, tức tương xứng với lợi ích cảm nhận được trong một bối cảnh cụ thể. Giá thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị trao đổi, hình thành thông qua quan hệ cung cầu của thị trường. Theo Trần Thanh Hùng (2011), thị trường bất động sản mang tính phân khúc và tính độc quyền nhóm.
Giá thị trường là giá trị trung bình (PT) của các mức giá mua bán cụ thể, được chấp nhận bởi đa số (hình 1. 2: Giá đất đai trong các phân khúc thị trường 1. Sự thay đổi của giá cả đất đai Có thể thấy rằng yếu tố chi phối giá cả trong một khu vực phần lớn được quy định bởi mức vị thế xã hội của khu vực đó. Sự thay đổi giá này thường gắn liền với quá trình trưởng giả hóa hay hoang hóa, đồng nhất với trào lưu tiêu dùng của xã hội.
Trong mỗi khu vực đô thị, tương ứng với một mức vị thế cụ thể sẽ có một mức giá trị trao đổi xác định, giá cả mua bán trên thị trường có thể dao động, nhưng luôn xoay quanh mức giá trị này, vì vậy mà giá cả đất đai mang tính ngưỡng. Các mức vị thế khác nhau có các mức ngưỡng giá đất đai khác nhau (Hình 1. 3: Tính ngưỡng của giá cả đất đai n 9 Giá thị trường không phải là một điểm cân bằng tĩnh, mà là điểm cân bằng động. Ở một vị trí và thời gian cố định giá thị trường của đất đai là không đổi, nhưng giá sẽ thay đổi theo thời gian và không gian phân bố [21].
Bên cạnh tính ngưỡng, do thành phần vị thế mà giá trị trao đổi đất đai trong thực tế có tính phi tuyến, vị thế là yếu tố chủ đạo tạo ra giá trị trao đổi đất đai, khi vị thế tăng cao thì giá cũng tăng cao, ngược lại giá giảm là do vị thế giảm. Sự thay đổi này là do quá trình trưởng giả hóa hay hoang hóa tạo ra. Có nghĩa là, tập trung những người có vị thế cao thì giá cả sẽ tăng đột ngột từ điểm A đến B (Hình 1. 4: Tính phi tuyến của giá đất đai Khi có một tác động nhỏ đến khu vực này thì giá cả sẽ đột nhiên “cất cánh”.
Có thể hiểu đơn giản là vì có sự thay đổi trong động học dân cư đô thị. Nói cụ thể hơn, tại khu vực có vị thế cao, vì một lý do nào đó, như muốn tăng cơ hội việc làm và tăng thêm thu nhập mà người từ khu vực có vị thế thấp hay người có thu nhập thấp di chuyển vào với mật độ cao, khi đó những người có vị thế cao trước đây cảm thấy không còn tương thích với khu vực này về đặc điểm văn hóa – xã hội dân cư và họ sẽ tìm kiếm một khu vực khác phù hợp với vị thế của mình, kéo theo sự tháo lui của tầng lớp giàu có và quá trình hoang hóa diễn ra với hệ quả là giá nhà đất sụt n 10 giảm. Ngược lại một nơi có vị thế thấp, nhưng có sự dự báo về khả năng phát triển, hay được kích thích bởi những cư dân có vị thế cao trong xã hội, dần dần sẽ có sự dịch chuyển những người giàu có đến định cư và tạo thành một cực vị thế mới. Động thái này được gọi là quá trình trưởng giả hóa, với hệ quả là giá cả tăng cao gấp nhiều lần [17][18].
Phân vùng sử dụng, khung giá và bảng giá đất đai Đất đai là cơ sở không gian bố trí lực lượng sản xuất, là không gian của các hoạt động kinh tế xã hội.