Mở đầu là cuộc khủng hoảng nợ ở Mỹ La-tinh vào đầu những năm 80, tiếp tục vào những năm 80 và đầu những năm 90 đã xảy ra các cuộc khủng hoảng ở các nước như: Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan. Vào năm 1992 – 1993, khủng hoảng của hệ thống tiền tệ và tỉ giá ở Châu Âu, năm 1994 – 1995 là cuộc khủng hoảng “Tequila” của Mexico, năm 1997 – 1998 với khủng hoảng tiền tệ Châu Á, và 2001 – 2002 liên tiếp là tại Brazil và Argentina. Các cuộc khủng hoảng tiền tệ này làm sụt giảm tổng giá trị quốc nội, gia tăng tỉ lệ thất nghiệp, làm các dòng vốn chảy khỏi nền kinh tế và gây ra mất sự ổn định kinh tế vĩ mô. Bằng chứng rõ nhất là cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997- 1998, đã làm Thái Lan mất 10,5% GDP, Indonesia mất 13,1% và Malaysia mất 7,4%.
Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi cũng chịu ảnh hưởng một phần không nhỏ từ cuộc khủng hoảng này. Cụ thể Năm 1996 tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 9,3% nhưng sang năm 1997 giảm xuống còn 8,2% và 5,8% năm 1998 và còn tiếp tục giảm trong năm 1999 xuống còn 4,8%. Theo những nghiên cứu gần đây, khủng hoảng tiền tệ thường xảy ra sau khi có các cuộc khủng hoảng ngân hàng – chủ yếu do các vấn đề về nợ xấu và chính các cuộc khủng hoảng tiền tệ lại làm cho các cuộc khủng hoảng ở các ngân hàng trầm trọng thêm, vượt ra khỏi tầm kiểm soát, khiến cho vòng lặp này lại tiếp tục. Một nguyên nhân khác của các cuộc khủng hoảng đó là do tác động của quá trình toàn cầu hóa và việc luân chuyển vốn trên thị trường thế giới tăng mạnh.
Trong khi đó tài khoản vãng lai và tài khoản vốn ở hầu hết các quốc gia không theo kịp so với quá trình tự do hóa và cải cách ở các khu vực kinh tế, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang chuyển đổi. Hơn nữa sự yếu kém trong hệ thống tiền tệ quốc tế do bỏ hệ thống tỉ giá cố định theo đôla Mỹ ở đầu thập kỷ 1970 và hình thành một chế độ tỉ giá thả 2 nổi không thật sự rõ ràng cũng là nguyên nhân dẫn đến những cuộc khủng hoảng tài chính ở nhiều nước. Khủng hoảng tiền tệ ngân hàng và tài chính khi đã xảy ra nó gây ra các tổn thất rất lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới, nó tác động hầu hết tất cả mọi người như những người gửi tiền có thể mất đi số tiền mà họ gửi hoặc bị đóng băng tài khoản, lạm phát tăng, đồng nội tệ suy giảm, sự gia tăng sản lượng suy giảm do đầu tư giảm, thất nghiệp gia tăng, hệ thống tài chính bị phá vỡ… Để làm giảm thiểu những tổn thất do tác động của khủng hoảng thì việc thiết lập hệ thống quản lý nhằm cảnh báo sớm khủng hoảng luôn là nhiệm vụ và thách thức đối với mỗi quốc gia. Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình, luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao dẫn đến đồng tiền nước ta có nguy có mất giá, thâm hụt ngân sách những năm gần đây có xu hướng gia tăng, cán cân vãng lai cũng thường xuyên thâm hụt có thể dẫn đến nguồn dự trữ ngoại tệ bị sụt giảm.
Bên cạnh đó tình trạng lãng phí, hiệu quả đầu tư và năng suất lao động thấp dẫn đến tăng trưởng của nước ta không bền vững, tất cả những điều này có nguy cơ đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính. Bởi vậy, việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm về nguy cơ bất ổn tiền tệ là rất cần thiết trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang phải chịu những tác động lớn từ những biến động trên thị trường quốc tế cũng như những bộ lộ yếu kém trong nền kinh tế hiện nay. Trước yêu cầu đòi hỏi của thực tế này đề tài “Ứng dụng mô hình cảnh báo sớm bất ổn tiền tệ theo cách tiếp cận phi tham số ở Việt Nam” đã được chọn làm chủ đề nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng hệ thống tài chính tiền tệ Việt Nam, và các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thồng tài chính tiền tệ ở Việt Nam - Ứng dụng mô hình cảnh báo sớm bất ổn tiền tệ ở Việt Nam theo cách tiếp cận phi tham số cho Việt Nam - Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để giảm thiểu rủi ro bất ổn tiền tệ tại Việt Nam 3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Cảnh báo sớm bất ổn tiền tệ 3 - Phạm vi nghiên cứu: Do những hạn chế về thời gian và kinh phí, do vậy nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc xác định những bất ổn tiền tệ ở Việt Nam dựa trên mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ theo cách tiếp cận phi tham số. Số liệu trong nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ nguồn số liệu được tổng hợp từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổng cục thống kê (GSO) từ năm tháng 1 năm 1996 đến tháng 3 năm 2016 và Ngân hàng nhà nước. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phân tích định lượng. Phân tích định tính sẽ đi sâu vào các nhân tố tác động dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế vĩ mô.
Phân tích định lượng bằng việc sử dụng mô hình cảnh báo khủng hoảng tiền tệ theo cách tiếp cận phi tham số để phát hiện ra những chỉ số có chỉ báo tốt trong cảnh báo bất ổn tiền tệ Việt Nam. Qua đó so sánh giữa lý luận và thực nghiệm để phát hiện ra các điểm mấu chốt trong dự báo bất ổn tiền tệ Việt Nam và đưa ra được các kiến nghị phù hợp. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu - Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa lý luận liên quan đến khủng hoảng tiền tệ và các mô hình cảnh báo khủng hoảng tiền tệ. - Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được thực trạng rủi ro tiền tệ ở Việt nam và áp dụng mô hình cảnh báo sớm, từ đó đưa ra được những đề xuất và kiến nghị.
Kết cấu đề tài Đề tài gồm có 4 chương: Chương 1: Tổng quan về lý thuyết và các mô hình khủng hoảng tiền tệ.Trong chương này trình bày những vấn đề cơ bản của mô hình khủng hoảng tiền tệ và các nghiên cứu trong và ngoài nước Chương 2: Thực trạng hệ thống tài chính tiền tệ ở Việt Nam. Chương này tổng quát về hệ thống tiền tệ Việt Nam nhằm đưa ra những mặt tích cực và hạn chế của hệ thống tài chính Việt Nam đồng thời đánh giá được các nhân tố tác động đến bất ổn tiền tệ Việt Nam 4 Chương 3: Cảnh báo sớm bất ổn tiền tệ ở Việt Nam: Cách tiếp cận phi tham số. Chương này tác giả ứng dụng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng tài tiền tệ vào Việt Nam trong thời gian qua nhằm phát hiện ra các chỉ số có chỉ báo tốt về cảnh báo bất ổn tiền tệ ở Việt Nam. Chương 4: Đề xuất một số kiến nghị giảm thiểu rủi ro bất ổn tiền tệ ở Việt Nam.
Chương này đưa ra một số đề xuất kiến nghị hướng phát triển để giảm thiểu rủi ro tiền tệ ở Việt Nam. 5 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ 1. Khủng hoảng tiền tệ và hệ thống cảnh báo khủng hoảng tiền tệ 1. Lý thuyết về khủng hoảng tiền tệ 1.
Định nghĩa về khủng hoảng tiền tệ Năm 1998 theo Đại từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin thì khủng hoảng là tình trạng rối loạn, mất cân bằng và bình ổn do nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau và khá toàn diện nó bao gồm cả những biểu hiên, nguyên nhân gây ra khủng hoảng và hậu quả của khủng hoảng. Theo Paul Krugman năm 1979 và sau đó được Flood và Garber hoàn thiện thêm vào năm 1984. Theo quan điểm của lý thuyết này “Khủng hoảng tiền tệ là do sự không nhất quán và mâu thuẫn giữa chính sách trong nước (đặc biệt gắn với t́ình trạng thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng in tiền trong thời gian dài) với chính sách duy trì tỉ giá cố định.
Sự không nhất quán này có thể tạm thời tồn tại khi ngân hàng trung ương (NHTW) dùng dự trữ để giữ vững thị trường và an tâm nhà đầu tư. Tuy nhiên, nó không thể tồn tại lâu dài do NHTW không có đủ dự trữ để giữ tỉ giá thị trường ở mức đã ấn định, và khi đó các nhà đầu cơ sẽ gây ra đổ vỡ bằng việc ồ ạt bán nội tệ và mua ngoại tệ”. Hành động đồng thời của họ ( mua ngoại tệ và bán nội tệ) trong khi có bất ổn kinh tế vĩ mô sẽ là một cuộc tấn công đầu cơ vào nội tệ và khiến dự trữ ngoại hối sụt giảm nhanh hơn và mức phá giá sẽ xảy ra sớm hơn. Đến năm 1986, Obstfeld đã đưa ra lý thuyết cảnh báo thế hệ thứ hai, sau đó đã được cải tiến vào các năm 1994 và 1996.
Theo đó, ông cho rằng “KHTT không xuất phát từ các yếu tố vĩ mô căn bản mà tự nó phát sinh và lây lan theo cơ chế kỳ vọng, xuất phát từ tâm lý của các nhà đầu cơ và sự theo đuổi các mục tiêu vĩ mô của Chính phủ”. Như vậy, có thể xảy ra khủng hoảng tiền tệ khi: kỳ vọng gắn kết với nhau theo hướng gây ra khủng hoảng, hành vi bầy đàn một cách hợp lý và tính lan truyền. Kỳ vọng gắn kết với nhau theo hướng gây ra khủng hoảng phản ánh sự bi quan của các nhà đầu tư và công chúng về công tác điều hành chính sách kinh tế 6 của Chính phủ, các báo cáo về tình hình không sáng sủa của nền kinh tế hay các sự kiện chính trị. Một khi số người có kỳ vọng về sự mất giá của đồng nội tệ nhiều, thì hành động của họ sẽ gây ra sự mất giá nghiêm trọng của đồng nội tệ.
Hành vi bầy đàn phản ánh các nhà đầu tư nhỏ hành động theo kiểu ăn theo các nhà đầu tư lớn. Tính lan truyền là lan tỏa khủng hoảng tiền tệ từ các nước phát sinh khủng hoảng trong khu vực do các mối quan hệ hợp tác thương mại, tài chính, đầu tư. Điều này giải thích tại sao các nước có quan hệ thương mại và tài chính trong khu vực rất dễ bị tác động lây nhiễm khủng hoảng.