Luận án tiến sĩ ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học tại việt nam

Luận án tiến sĩ ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch, phân tích yếu tố ảnh hưởng dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học tại Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh
264
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Lý thuyết hành vi có kế hoạch

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) là nền tảng lý thuyết chính trong nghiên cứu này. TPB giải thích cách thái độ, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu này áp dụng TPB để phân tích các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên đại học Việt Nam. TPB được chọn vì khả năng dự đoán hành vi dựa trên ý định, đặc biệt trong bối cảnh khởi nghiệp.

1.1. Thái độ đối với kinh doanh

Thái độ đối với kinh doanh là yếu tố quan trọng trong TPB. Nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên có thái độ tích cực với kinh doanh thường có dự định khởi sự kinh doanh cao hơn. Thái độ này được hình thành từ nhận thức về lợi ích và rủi ro của việc kinh doanh. Ví dụ, sinh viên nhận thấy kinh doanh mang lại cơ hội phát triển cá nhân và tài chính sẽ có xu hướng khởi nghiệp mạnh mẽ hơn.

1.2. Chuẩn chủ quan

Chuẩn chủ quan phản ánh áp lực xã hội và sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè, và cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy sinh viên nhận được sự ủng hộ từ người thân có dự định khởi sự kinh doanh cao hơn. Điều này đặc biệt quan trọng trong văn hóa Việt Nam, nơi gia đình đóng vai trò lớn trong quyết định cá nhân.

II. Dự định khởi sự kinh doanh

Dự định khởi sự kinh doanh là trọng tâm của nghiên cứu này. Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến dự định này, bao gồm động lực khởi nghiệp, cơ hội kinh doanh, và thách thức khởi nghiệp. Kết quả cho thấy sinh viên có động lực mạnh mẽ và nhận thức rõ về cơ hội kinh doanh thường có dự định khởi nghiệp cao hơn.

2.1. Động lực khởi nghiệp

Động lực khởi nghiệp là yếu tố then chốt thúc đẩy sinh viên theo đuổi kinh doanh. Nghiên cứu chỉ ra rằng động lực nội tại, như mong muốn tự chủ và sáng tạo, có tác động mạnh mẽ đến dự định khởi sự kinh doanh. Động lực này thường được nuôi dưỡng thông qua giáo dục và trải nghiệm thực tế.

2.2. Cơ hội và thách thức khởi nghiệp

Cơ hội kinh doanhthách thức khởi nghiệp là hai mặt của cùng một đồng xu. Sinh viên nhận thức rõ về cơ hội thị trường và có kế hoạch vượt qua thách thức thường có dự định khởi nghiệp mạnh mẽ hơn. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo khởi nghiệp để giúp sinh viên vượt qua các rào cản.

III. Yếu tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh

Nghiên cứu xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên, bao gồm tâm lý sinh viên, môi trường kinh doanh, và hỗ trợ từ nhà trường. Các yếu tố này tương tác phức tạp, tạo nên bức tranh toàn diện về quyết định khởi nghiệp.

3.1. Tâm lý sinh viên

Tâm lý sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành dự định khởi sự kinh doanh. Sinh viên có tư duy tích cực, sẵn sàng chấp nhận rủi ro thường có xu hướng khởi nghiệp cao hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự tự tin và khả năng giải quyết vấn đề là yếu tố tâm lý quan trọng.

3.2. Môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm chính sách hỗ trợ và cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng lớn đến dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp.

IV. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong việc thiết kế các chương trình đào tạo khởi nghiệp và chính sách hỗ trợ sinh viên. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các trường đại học và cơ quan chính phủ xây dựng chiến lược thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên.

4.1. Đào tạo khởi nghiệp

Đào tạo khởi nghiệp là giải pháp quan trọng để nâng cao dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu đề xuất các chương trình đào tạo tập trung vào phát triển kỹ năng, kiến thức kinh doanh, và tư duy sáng tạo. Điều này giúp sinh viên tự tin hơn trong việc theo đuổi ý tưởng kinh doanh.

4.2. Hỗ trợ từ nhà trường và chính phủ

Hỗ trợ từ nhà trườngchính phủ là yếu tố then chốt để thúc đẩy khởi nghiệp. Nghiên cứu khuyến nghị tăng cường các chính sách hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng, và mạng lưới kết nối cho sinh viên khởi nghiệp. Điều này tạo môi trường thuận lợi để sinh viên biến ý tưởng thành hiện thực.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIEN CUU VA CO SO LY THUYET 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu các nhân tỗ ảnh hướng tới dự định khởi sự kinh doanh Khởi sự kinh doanh trong những năm gần đây nhận được sự quan tâm từ các nhà hoạch định chính sách, các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu bởi khởi sự kinh doanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, sự phát triển ôn định của xã hội và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động của các quốc gia trên thế giới. Các nhân tế tác động tới dự định khởi sự kinh doanh rất đa đạng từ đặc điểm tính cách cá nhân, môi trường, văn hóa, thể chế, cho đến các yếu tố động lực như mong muốn khẳng định bản thân.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về khởi sự kinh doanh vẫn chưa thống nhất được những yếu tố nào là những yếu tố chính ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh. Vì vậy phần tổng quan nghiên cứu này tác giả sẽ trình bày tóm lược các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới dự định trở thành doanh nhân của sinh viên Đại học. Tổng quan các công trình nghiên cứu các nhân tố (yếu tố) ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh được trình bày trong bảng 7 (Phụ lục 1). Các công trình nghiên cứu trong phan này (93 công trình nghiên cứu) hầu hết được trình bày bằng tiếng Anh và được xuất bản trong các tạp chí uy tín từ năm 1996 cho tới 2019.

Nhìn chung, căn cứ theo nội dung thì các nhân tố (yếu tố) tác động tới dự định khởi sự kinh doanh có thể được chia thành 04 nhóm nhân tố: Thứ nhất, nhóm nhân tô liên quan tới đặc điểm (tính cách) cá nhân (Personality Traits): Theo két quả tổng quan các công trình nghiên cứu thì đặc điểm (tính cách) cá nhân nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ các nhà nghiên cứu và cũng được coi là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất tới dự định khởi sự kinh doanh (Altinay va cOng sự, 2012). Những đặc điểm (tính cách) cá nhân ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh của một người gồm có: Sự tự tin (self-confidence) (Baughn và cộng sự, 2006; Camelo-Ordaz và cộng sự, 2016; Esfandiar và cộng sự, 2017; Gerba, 2012; Hsu và cộng sự, 2018; Haddoud, 2019; Kolvereid, 1996a; Lee và cộng sự, 2009; Peng và cộng sự, 2012; Turker và Selcuk, 2009; Tolentino và cộng sự, 2014; VirzI và cộng sự, 2015; Nowiáñski và Zaremohzzabich và cộng sự, 2019), thiên hướng chấp nhận rủi ro (Altinay và cộng sự, 2012; Gurel và cộng sự, 2010; Khương và An, 2016; Luthuje và Franke, 2003; Naushad, 2018; Walter và cộng sự, 2013), khả năng tự kiểm soát (Altnay và cộng sự, 2012; Gurel và cộng sự, 2010; 10 Khuong va An, 2016; Luthuje va Franke, 2003; Naushad, 2018), tính sáng tạo-thích đổi mới (Hormiga và cộng sự, 2013; Kakkonen, 2004; Opoku-Antwi và cộng sự, 2012; Nsereko và cộng sự, 2018), tính độc lập (Carter và cộng sự, 2003; Fernández-CorneJo và cộng sự, 2018; Hajer và Habid, 2013;Uddin và Bose, 2012).Ngoài ra, một số nhân tố như phong cách sống hay khả năng chịu đựng cũng thuộc nhóm nhân tố đặc điểm (tính cách) cá nhân (Lin và cộng sự, 2017). Thứ hai, nhóm yếu tổ liên quan tới động lực cá nhân (Personal Motivation): Barba- Sanchez & Atienza-Sahuquillo (2017) cho rằng nhu cầu kiếm thêm thu nhập và mong muốn độc lập (tài chính, thời gian) ảnh hưởng mạnh tới dự định khởi sự kinh doanh. Trong khi đó Segumpan và Zahari (2012) thì cho rằng ngoài nhu cầu kiếm thêm thu nhập, mong muốn có vị trí trong xã hội và thích sự chuyên nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng tới dự định khởi sự kinh doanh.

Perri và cộng sự (2012) lại chỉ ra rằng chính mong muốn có thêm thu nhập và thiếu cơ hội việc làm thích hợp lại là động lực chính đề người ta khởi sự kinh doanh ở Trung Quốc và Việt Nam.Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng chính nhu cầu làm giàu và mong muốn khẳng định bản thân là động lực quan trọng đề khởi sự kimh doanh (Camelo-Ordaz và cộng sự, 2016; Kautonen và cộng sự, 2013; Liargovas và Skandalis, 2012; Lin va Si, 2014; Tkachev va Kolvereid, 1999; Van Gelderen va cộng sự, 2008; Smith va Beasley, 2011). Ngoai ra, một số nhân tố (yếu tố) như mong muốn cân bằng cuộc sống và công việc cũng là động lực ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh (Brice va Nelson, 2008; Franco và cộng sự, 2010; Pruett và cộng sự, 2009). Thứ ba, nhóm yếu tổ liên quan tới môi trường và bối cảnh (Contextual Environment): Cac yéu té lién quan tới môi trường và bối cảnh có thê thúc đây hoặc ngăn cản các hoạt động khởi sự kinh doanh, ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh thông qua cảm nhận về lợi ích hay bất lợi khi tiến hành khởi sự (Franke và Luthje, 2004). Trong đó, bối cảnh văn hóa được coi là một trong các yếu tố có mối quan hệ tương quan mạnh tới dự định khởi sự kinh doanh (Adekiya và Ibrahim, 2016; Bogatyreva và cộng sự, 2019; Miranda va cong sự, 2017; Lin và cộng sự, 2017; Shirokova và cộng sự, 2015; Ismail và cộng sự, 2012), và mong muốn khởi sự kinh doanh (Baughn và cộng sự, 2006).

Sự phát triển cơ sở hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đây các hoạt động khởi sự kinh doanh (Khương và An, 2016). Ngoài ra, bối cảnh về chính trị, xã hội và kinh tế ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh cũng được xem như nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh trong các nghiên cứu về khởi sự kinh doanh gần day (Bonesso va cộng sự, 2018; Esfandiar va cong su, 2017; Lin va Si, 2014; Lin va cong sự, 2017; Shiri và cộng sự, 2012; Shirokova và cộng sự, 2015; Siu và Lo, 2013). Đặc biệt, những năm gần đây, mối quan hệ g1ữa môi trường giáo dục-đào tạo (học đại học, giáo dục 11 và đào tạo về khởi sự kinh doanh) và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên được quan tâm nghiên cứu hơn cả (Adekiya và Ibrahim, 2016; Gordon va Bursuc, 2018; Barba- Sanchez & Atienza-Sahuquillo, 2017; Barral và cộng sự, 2018; Hunady và cộng sự, 2018; Farashah, 2013; Miranda va cộng sự, 2017; Shinnar và cộng sự, 2014; Shirokova và cộng su, 2015; Virzi va cong sur, 2015). Thứ tư, nhóm yếu tô liên quan tới nhân khẩu học và nên tảng cá nhân (Personal Background): Wang và Wong (2004) chỉ ra rằng giới tính, nền tảng gia đình và trình độ học vấn có ảnh hưởng đáng kể tới dự định khởi sự kinh doanh của một người.

Mặc dù tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy tuổi không ảnh hưởng nhiều tới dự định khởi sự kinh doanh, nhưng Kristian và Indarti (2004) cho rằng doanh nhân thành công trong khởi sự thường tiến hành khởi sự kinh doanh khi họ còn trẻ. Nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng nam giới có dự định khởi sự kinh doanh cao hơn nữ giới, nhưng nghiên cứu của Varghese và Hassan (2012) lại cho thấy kết quả ngược lại, tức là nữ giới có dự định khởi sự kinh doanh cao hơn nam giới bởi họ sáng tạo hơn và có nhiều ý tưởng kinh doanh mới. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kinh nghiệm kinh doanh và làm việc cũng có ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh (Asamami và Mensah, 2013; Barral và cộng sự, 2018; Bonesso và cộng sự, 2018; Hsu và cộng sự, 2018; Liãán và Chen, 2006; Liguori và cộng sự, 2018; Miranda và cộng sự, 2017; Peng và cộng sự, 2012; Paul và Shrivatava, 2016; Paul va Shrivatava, 2016; Siu va Lo, 2013; Zaremohzzabieh va cộng sự, 2019). Tại Việt Nam, vấn đề khởi sự kinh doanh và hướng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh cũng nhận được sự quan tâm từ nhiều học giả, các nhà nghiên cứu.

Bảng 2 (Phụ lục 1) trình bày tổng hợp của tác giả về một số nghiên cứu về vấn đề khởi sự kinh doanh và dự định khởi sự kinh doanh trong bối cảnh của Việt Nam. Trong luận án tiến sĩ được bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân, tác giả Nguyễn Thu Thủy (2015) kiểm định tác động của các yếu tố trải nghiệm cá nhân và một số yếu tô môi trường tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên Đại học ở Việt Nam. Trọng tâm nghiên cứu này là nghiên cứu định lượng để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu, tuy nhiên tác giả cũng đã thực hiện nghiên cứu sơ bộ định tính và nghiên cứu sơ bộ định lượng trước khi nghiên cứu định lượng chính thức. Nghiên cứu này đã chỉ ra trải nghiệm cá nhân (trong đó bao gồm cả các trải nghiệm thu được trong quá trình học đại học) có ảnh hưởng thuận chiều tới tiềm năng khởi sự của sinh viên.

Ngoài ra, các hoạt động định hướng khởi sự kinh doanh trong quá trình học đại học, học môn khởi sự kinh doanh có tác động tích cực tới mong muốn khởi sự kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu này cũng đã phát triển thước đo và xác định thêm được một nhân tố ảnh hưởng tới mong muốn khởi sự kinh doanh và sự tự tin khởi sự kinh doanh đó là “mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa khởi 12 sự kinh đoanh ”. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa nghiên cứu mối quan hệ tiềm năng khởi sự kinh doanh tới dự định khởi sự kinh doanh hay ảnh hưởng của văn hóa tới dự định khởi sự kinh doanh. Luận án tiến sĩ nghiên cứu về “tăng cường khả năng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam” được tác giả Ngô Quỳnh An (2012) bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân, nghiên cứu này chỉ ra mặc dù gia đình đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ, khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm song có bằng chứng thống kê cho thấy bên cạnh việc gia đình, người thân hỗ trợ thì mạng lưới vốn xã hội giao tiếp rộng hơn khi thanh niên tham gia các câu lạc bộ, các hiệp hội nghề nghiệp, tọa đàm.

và vốn xã hội liên kết có sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức trong và ngoài nước, các ban ngành, đoàn thanh niên. đã thúc đây thanh niên tự tạo việc làm trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế Việt Nam. Mặc đủ giải quyết được câu hỏi “yếu tố nào ảnh hưởng tới khả năng tự tạo việc làm của thanh niên” song luận án này chưa xem xét tới “dự định khởi sự kinh doanh” và mẫu nghiên cứu là thanh niên, những người trong độ tuổi từ 18 tới 25 tại Việt Nam. Các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh cũng một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam thực hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ứng Dụng Lý Thuyết Hành Vi Có Kế Hoạch: Nghiên Cứu Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Dự Định Khởi Sự Kinh Doanh Của Sinh Viên Đại Học Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu áp dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để phân tích các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ vai trò của thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi mà còn cung cấp cái nhìn toàn diện về động lực và rào cản trong hành trình khởi nghiệp của giới trẻ. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh và tâm lý học ứng dụng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt, cung cấp cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, Ncs trang tóm tắt luận án tiếng việt cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp bạn hiểu sâu hơn về phương pháp luận và kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, 3 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng anh ncs nguyễn khắc tấn mang đến góc nhìn đa chiều từ các nghiên cứu quốc tế, hỗ trợ bạn trong việc so sánh và đối chiếu.

Hãy khám phá các tài liệu này để nâng cao hiểu biết và tìm kiếm thêm thông tin bổ ích!