Tổng quan về luận án

Sự bùng nổ của làn sóng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã khẳng định vai trò xung kích của tinh thần doanh nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Khởi sự kinh doanh không đơn thuần là quá trình thành lập một thực thể kinh tế mới mà là động lực thúc đẩy năng suất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm (Shane & Venkataraman, 2000; Carree & Thurik, 2003; Guerrero et al., 2008). Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi và tích cực hội nhập quốc tế, việc thúc đẩy tinh thần khởi sự kinh doanh trong giới trẻ, đặc biệt là sinh viên đại học – lực lượng lao động trí tuệ chất lượng cao – trở thành nhiệm vụ chiến lược quốc gia.

Dữ liệu từ Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Toàn cầu (GEM 2015/2016) phản ánh một thực trạng đáng chú ý: Việt Nam đứng thứ 20 trên 60 quốc gia về tỷ lệ động lực khởi sự giai đoạn đầu, song chỉ số động cơ khởi nghiệp tổng thể chỉ đạt 1,5 điểm (xếp thứ 42/60), thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan (thứ 9/60), Malaysia (thứ 6/60), Indonesia (thứ 28/60) và Philippines (thứ 38/60). Đáng chú ý, tỷ lệ khởi sự để nắm bắt cơ hội làm giàu đạt 62,6%, trong khi khởi sự vì không có lựa chọn nghề nghiệp nào tốt hơn (thoát nghèo) chiếm tới 37,4% (đứng thứ 7/60 toàn cầu). Trong nhóm khởi sự nhằm tận dụng cơ hội, có tới 46,9% hướng đến mục tiêu gia tăng thu nhập ngắn hạn và chỉ có 11,0% khởi sự nhằm đạt được tính tự chủ nghề nghiệp. Đến giai đoạn GEM 2017/2018, khảo sát ghi nhận 25,0% người trưởng thành tại Việt Nam có ý định khởi sự kinh doanh và 23,3% đã tham gia vào hoạt động khởi sự thành công. Thực tiễn này đặt ra câu hỏi quản lý cấp thiết: Làm thế nào để các cơ quan quản lý vĩ mô và cơ sở giáo dục đại học xây dựng chính sách thúc đẩy dự định khởi sự kinh doanh đổi mới sáng tạo, bền vững ở sinh viên?

Về mặt học thuật, mặc dù các nghiên cứu quốc tế đã tiếp cận hành vi khởi sự thông qua "cách tiếp cận dự định" (Bird, 1988; Krueger et al., 2000), song vẫn tồn tại khoảng trống nghiên cứu (research gap) trọng yếu. Phần lớn các công trình tập trung vào các yếu tố nội sinh hoặc được thực hiện tại các nền kinh tế phát triển phương Tây (Perkmann et al., 2013; Nguyễn et al., 2018). Cơ chế tác động tương hỗ giữa các nhân tố bối cảnh, thể chế bên ngoài (external/contextual factors) tới các cấu phần nhận thức, thái độ bên trong (internal cognitive factors) của cá nhân trong nền kinh tế chuyển đổi vẫn chưa được giải thích toàn diện (Welter, 2011; Turker & Selcuk, 2009).

Luận án tiến sĩ ngành Quản trị kinh doanh (Mã số: 9340101) của nghiên cứu sinh Dương Công Doanh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Huyền tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2019), giải quyết trọn vẹn khoảng trống trên thông qua việc ứng dụng và mở rộng Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991). Luận án tập trung giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Khung lý thuyết nào phù hợp nhất để giải thích và dự báo dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam?
  2. Các yếu tố thuộc thái độ cá nhân tác động như thế nào tới dự định khởi sự kinh doanh?
  3. Các nhân tố môi trường, bối cảnh bên ngoài tác động trực tiếp và gián tiếp như thế nào tới quá trình nhận thức và dự định khởi sự?
  4. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giới tính và khối ngành học trong mô hình tác động hay không?
  5. Các hàm ý chính sách và giải pháp giáo dục nào cần được thực thi để nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được kiểm định trên phạm vi khảo sát quy mô quốc gia gồm 14 trường đại học (8 trường miền Bắc, 3 trường miền Trung, 3 trường miền Nam) với cỡ mẫu trên 1.000 sinh viên năm cuối trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2017 đến 2019, đáp ứng nghiêm ngặt tiêu chuẩn cỡ mẫu của Comrey và Lee (1992).

Literature Review và Positioning

Khởi sự kinh doanh trong lý luận kinh tế học và quản trị học được phân nhánh thành hai trường phái tiếp cận chủ đạo: kinh tế lao động với góc nhìn tự tạo việc làm (self-employment) (Kolvereid, 1996a) và quản trị kinh doanh với bản chất tinh thần doanh nhân (entrepreneurship), chấp nhận rủi ro để tối ưu hóa cơ hội thị trường và tạo lập giá trị mới (Schumpeter, 1975; Begley & Tan, 2001). Tổng quan 93 công trình nghiên cứu quốc tế giai đoạn 1996-2019 cho thấy các tiền tố tác động đến dự định khởi sự được phân chia thành 4 nhóm nhân tố chính:

  • Đặc tính cá nhân (Personality Traits): Sự tự tin, thiên hướng chấp nhận rủi ro, khả năng tự kiểm soát và tính đổi mới sáng tạo (Altinay et al., 2012; Gurel et al., 2010; Luthje & Franke, 2003).
  • Động lực cá nhân (Personal Motivation): Nhu cầu thu nhập, sự độc lập tài chính, mong muốn khẳng định vị thế xã hội (Barba-Sanchez & Atienza-Sahuquillo, 2017; Kautonen et al., 2013).
  • Môi trường và bối cảnh (Contextual Environment): Văn hóa xã hội, thể chế pháp lý, cơ chế hỗ trợ của chính phủ và môi trường giáo dục khởi nghiệp (Welter, 2011; Shirokova et al., 2015; Miranda et al., 2017).
  • Nhân khẩu học và nền tảng cá nhân (Personal Background): Giới tính, truyền thống gia đình, kinh nghiệm thực tiễn (Wang & Wong, 2004; Asamani & Mensah, 2013).

Trong dòng nghiên cứu nhận thức hành vi, 3 mô hình lý thuyết nền tảng chi phối gồm: Mô hình Sự kiện Khởi sự (Entrepreneurial Event Model - EEM) của Shapero và Sokol (1982), Mô hình Dự định Khởi sự (Entrepreneurial Intention Model - EIM) của Bird (1988) và Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991). Luận án định vị vị trí học thuật dựa trên TPB bởi tính chặt chẽ, khả năng phân tách rành mạch giữa thái độ cá nhân và chuẩn mực xã hội, đồng thời khắc phục sự thiếu hụt kiểm chứng thực nghiệm của mô hình EIM (Drnovsek & Erikson, 2005).

Tranh luận học thuật lớn nhất trong cấu trúc TPB xoay quanh biến số "Chuẩn chủ quan" (Subjective Norms). Trong khi các nghiên cứu của Carr và Sequeira (2007), Van Gelderen et al. (2008), Zaremohzzabieh et al. (2019) chứng minh chuẩn chủ quan tác động mạnh mẽ và thuận chiều tới dự định, thì nhiều học giả quốc tế như Autio et al. (2001), Liñán và Chen (2009), Conner và Armitage (2001) lại kết luận rằng mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê hoặc bị triệt tiêu khi đưa vào mô hình cấu trúc. Nhiều nghiên cứu thậm chí đã loại bỏ biến này ra khỏi khung phân tích (Liñán, 2008; Peterman & Kennedy, 2003).

So sánh với các nghiên cứu quốc tế đa quốc gia:

  • Nghiên cứu của Iakovleva et al. (2011): Thực hiện trên 13 quốc gia, chỉ ra rằng ba thành phần của TPB giải thích 59% phương sai dự định tại các nước phát triển (Australia, Canada, Pháp, Đức, Hà Lan...) và 62% tại các nước đang phát triển (Brazil, Mexico, Romania, Nga, Ukraine). Mối tương quan giữa các biến nhận thức và dự định ở các nước đang phát triển thậm chí mạnh hơn các nước phát triển.
  • Nghiên cứu của Paul và Shrivastava (2016): So sánh giữa Ấn Độ (nước đang phát triển) và Nhật Bản (nước phát triển), chỉ ra rằng dự định khởi sự của các nhà quản trị trẻ không phụ thuộc tuyến tính vào trình độ phát triển kinh tế vĩ mô mà chịu sự chi phối của rào cản văn hóa và năng lực hành vi chủ động.
  • Nghiên cứu của Engle et al. (2010): Khảo sát trên 12 quốc gia ghi nhận mức độ tác động không đồng nhất của thái độ và chuẩn chủ quan giữa các nền văn hóa khác biệt.

Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Thu Thủy (2015), Ngô Quỳnh An (2012), Khương và An (2016), Cường Nguyễn (2015), và Đoàn Thị Thu Trang (2018) đã tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ như trải nghiệm cá nhân, tự tạo việc làm hay sinh viên khối kỹ thuật. Luận án của Dương Công Doanh định vị sự tiên phong khi xây dựng một mô hình tích hợp toàn diện, xem xét đồng thời tác động trực tiếp và trung gian của 4 biến môi trường bên ngoài tới 4 cấu phần nhận thức bên trong trên mẫu đại diện đa vùng miền của sinh viên đại học Việt Nam.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (Ajzen, 1991) bằng việc tích hợp Lý thuyết Năng lực Tự tin Bản thân (Social Cognitive Theory / Self-Efficacy) của Bandura (1986) và Lý thuyết Vốn Xã hội (Social Capital Theory).

Đóng góp lý luận mang tính đột phá của nghiên cứu là giải mã cơ chế truyền dẫn của "Chuẩn chủ quan" và "Vốn quan hệ xã hội". Nghiên cứu chứng minh chuẩn chủ quan không tác động trực tiếp lên dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên mà chuyển hóa hoàn toàn qua các biến trung gian nhận thức: Thái độ đối với khởi sự, Cảm nhận khả năng kiểm soát và Sự tự tin vào năng lực khởi sự. Phát hiện này giải quyết dứt điểm mâu thuẫn tồn tại hàng thập kỷ trong y văn TPB quốc tế (Ajzen, 1991; Conner & Armitage, 2001; Vuković et al., 2017).

Khung phân tích độc đáo

Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ cấu trúc đa tầng giữa 9 khái niệm tiềm ẩn (latent constructs):

  • Nhóm biến ngoại sinh (Bối cảnh và môi trường):
    1. Vốn quan hệ xã hội (Social Capital)
    2. Môi trường đào tạo đại học (University Training Environment)
    3. Cơ chế chính sách của chính phủ (Government Policy & Regulatory Framework)
    4. Quan niệm của xã hội (Societal Valuation / Social Attitude toward Entrepreneurship)
  • Nhóm biến trung gian nội sinh (Nhận thức và thái độ cá nhân): 5. Thái độ đối với khởi sự kinh doanh (Attitude Toward Entrepreneurship - ATE) 6. Chuẩn chủ quan (Subjective Norms - SN) 7. Cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control - PBC) 8. Sự tự tin vào năng lực khởi sự (Entrepreneurial Self-Efficacy - ESE)
  • Biến phụ thuộc cốt lõi: 9. Dự định khởi sự kinh doanh (Entrepreneurial Intention - EI)
  • Biến kiểm soát và so sánh đa nhóm: Giới tính (Nam/Nữ) và Ngành học (Kinh tế - QTKD / Kỹ thuật - Khác).

Khung phân tích xác lập rõ các điều kiện biên (boundary conditions), trong đó sự tác động của các thể chế vĩ mô và giáo dục đại học được lọc qua lăng kính đánh giá chủ quan của cá nhân trước khi định hình xu hướng hành vi cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đứng trên lập trường bản thể luận khách quan và nhận thức luận thực chứng (Positivism), kết hợp thiết kế phương pháp hỗn hợp (mixed-methods design) theo trình tự hai giai đoạn:

  1. Nghiên cứu sơ bộ định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung với các chuyên gia, giảng viên và sinh viên nhằm hiệu chỉnh thang đo quốc tế cho phù hợp với ngữ cảnh văn hóa, thể chế và ngôn ngữ kinh tế tại Việt Nam.
  2. Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Khảo sát thử nghiệm mẫu nhỏ để sàng lọc biến quan sát, kiểm định sơ bộ độ tin cậy và giá trị nội dung của bảng câu hỏi.
  3. Nghiên cứu định lượng chính thức: Thu thập dữ liệu diện rộng phục vụ kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện được triển khai tại 14 trường đại học trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam, đại diện cho các khối ngành đào tạo trọng điểm (Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Kỹ thuật, Công nghệ). Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 - Hoàn toàn không đồng ý đến 5 - Hoàn toàn đồng ý), được kế thừa và phát triển từ các thang đo chuẩn hóa quốc tế của Linan và Chen (2009), Krueger et al. (2000), Kolvereid (1996a), Chen et al. (1998).

Quy trình kiểm soát chất lượng dữ liệu tuân thủ chuẩn mực cao:

  • Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha (ngưỡng chấp nhận $\alpha \ge 0.70$, hệ số tương quan biến - tổng $\ge 0.30$).
  • Kiểm định tính giá trị qua Phân tích Nhân tố Khám phá (EFA) với phương pháp trích Principal Axis Factoring và phép xoay Promax/Varimax.
  • Kiểm định Phân tích Nhân tố Khẳng định (CFA) để đánh giá tính hội tụ (Convergent Validity: $AVE > 0.50, CR > 0.70$), tính phân biệt (Discriminant Validity), và độ phù hợp của mô hình đo lường tới hạn (CMIN/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA).

Data và phân tích

Dữ liệu định lượng quy mô lớn được xử lý thông qua phần mềm SPSS và AMOS phiên bản 22.0. Kỹ thuật Mô hình hóa Cấu trúc Tuyến tính (Structural Equation Modeling - SEM) được áp dụng để kiểm định đồng thời các mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp.

Nhằm kiểm tra tính bất biến của mô hình, phân tích cấu trúc đa nhóm (Multi-Group Analysis - MGA) được thực hiện để so sánh giữa mô hình khả biến (unconstrained model) và mô hình bất biến từng phần/toàn phần (constrained model) theo tiêu chí giới tính và ngành học thông qua kiểm định độ chênh lệch Chi-bình phương ($\Delta \chi^2$).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Sự thống trị của Thái độ cá nhân và Cảm nhận kiểm soát: "Thái độ đối với khởi sự kinh doanh" và "Cảm nhận khả năng kiểm soát" là hai nhân tố có tác động trực tiếp tích cực và mạnh mẽ nhất tới dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên, khẳng định tính vững chắc của mô hình TPB gốc (Ajzen, 1991).
  2. Giải mã vai trò của Chuẩn chủ quan: "Chuẩn chủ quan" không có tác động trực tiếp có ý nghĩa thống kê tới dự định khởi sự kinh doanh, nhưng tạo ra tác động gián tiếp có ý nghĩa rất lớn thông qua việc nâng cao sự tự tin vào năng lực khởi sự, củng cố thái độ tích cực và gia tăng cảm nhận kiểm soát hành vi.
  3. Tác động kép của Môi trường đào tạo đại học: Môi trường đào tạo đại học là yếu tố bối cảnh duy nhất thể hiện sức mạnh tác động đồng thời cả trực tiếp và gián tiếp ở mức độ cao tới dự định khởi sự của sinh viên.
  4. Cơ chế tác động của Vốn quan hệ xã hội và Quan niệm xã hội: Cả hai yếu tố này không tác động trực tiếp đến dự định nhưng đóng vai trò là "bệ đỡ tâm lý" ngoại sinh, tác động gián tiếp rất mạnh mẽ thông qua việc khuếch đại sự tự tin năng lực bản thân và cảm nhận kiểm soát.
  5. Phát hiện ngược kỳ vọng về Cơ chế chính sách của Chính phủ: Cơ chế chính sách của chính phủ tác động yếu và có chiều hướng tiêu cực đến dự định khởi sự của sinh viên. Điều này phản ánh khoảng cách lớn giữa các văn bản chính sách vĩ mô với mức độ tiếp cận, thụ hưởng thực tế của sinh viên khi bắt tay vào xây dựng đề án khởi nghiệp.
  6. Tính bất biến về giới tính và ngành học: Phân tích đa nhóm chứng minh không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong mô hình cấu trúc tác động giữa nam và nữ, cũng như giữa sinh viên khối kinh tế và sinh viên khối phi kinh tế/kỹ thuật.

Implications đa chiều

  • Về mặt học thuật: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc từ một nền kinh tế chuyển đổi Đông Nam Á, chuẩn hóa bộ thang đo đo lường các yếu tố thể chế và nhận thức khởi nghiệp cho sinh viên.
  • Về quản trị đại học: Chuyển đổi phương pháp đào tạo khởi nghiệp từ trang bị kiến thức kinh doanh thuần túy sang rèn luyện tư duy thực chiến, tạo lập mạng lưới kết nối doanh nhân cố vấn (mentorship) và phát triển các trung tâm ươm tạo ngay trong trường học.
  • Về chính sách công: Chính phủ cần tái cấu trúc các kênh hỗ trợ khởi nghiệp thanh niên, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận vốn mồi, quỹ đầu tư thiên thần, và đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao vị thế của doanh nhân trong xã hội.

Limitations và Future Research

  1. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional Design): Dữ liệu thu thập tại một thời điểm đo lường dự định chứ chưa theo dõi hành vi khởi sự thực tế diễn ra sau khi sinh viên tốt nghiệp (khoảng cách giữa ý định và hành vi - Intention-Action Gap).
  2. Phương pháp tự báo cáo (Self-reported Data): Tiềm ẩn nguy cơ sai lệch do phương sai phương pháp chung (Common Method Bias).
  3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Giới hạn ở sinh viên đại học năm cuối, chưa bao quát nhóm thanh niên học nghề hoặc lao động trẻ ngoài học đường.

Hướng nghiên cứu tương lai:

  • Triển khai nghiên cứu dọc (Longitudinal Study) để theo dõi tỷ lệ chuyển đổi từ dự định sang hành vi khởi sự thực tế sau 1-3 năm tốt nghiệp.
  • Mở rộng mô hình đa cấp (Multi-level SEM) tích hợp các biến số cấp trường đại học (văn hóa khởi nghiệp trường học, quỹ ươm tạo) và cấp tỉnh/thành phố (chỉ số PCI, hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương).
  • Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối sánh quốc tế (Cross-cultural Comparative Studies) giữa Việt Nam và các quốc gia trong khối ASEAN.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án đóng góp nguồn tài liệu tham khảo học thuật có giá trị trích dẫn cao trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi khởi sự kinh doanh tại châu Á. Về mặt chính sách, các phát hiện thực nghiệm cung cấp luận cứ khoa học sắc bén hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc thực thi Đề án 1665 "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025". Đề tài thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ khởi sự mưu sinh dựa trên tài nguyên sang khởi nghiệp sáng tạo tạo giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận mô hình nghiên cứu mở rộng chuẩn mực, phương pháp phân tích SEM và MGA chuyên sâu.
  • Giảng viên và nhà quản lý đại học: Cơ sở thiết kế chương trình đào tạo khởi sự kinh doanh tích hợp kỹ năng thực tế.
  • Nhà hoạch định chính sách: Căn cứ thực tiễn để tinh chỉnh cơ chế vườn ươm, chính sách hỗ trợ vốn và thủ tục pháp lý cho giới trẻ.
  • Các tổ chức ươm tạo và quỹ đầu tư: Thấu hiểu tâm lý, điểm nghẽn nhận thức của nhà sáng lập trẻ để có chiến lược đồng hành hiệu quả.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã mở rộng Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (Ajzen, 1991) bằng cách chứng minh "Chuẩn chủ quan" đóng vai trò là tiền tố gián tiếp tác động thông qua ba biến trung gian nhận thức (Thái độ, Khả năng kiểm soát và Năng lực tự tin khởi sự), giải quyết triệt để tranh cãi học thuật kéo dài về mối quan hệ trực tiếp của biến số này đối với dự định hành vi.

  2. Đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước tại Việt Nam? So với nghiên cứu của Cường Nguyễn (2015) chỉ dùng hồi quy OLS trên mẫu 250 sinh viên tại TP.HCM, hay Đoàn Thị Thu Trang (2018) chỉ khảo sát sinh viên kỹ thuật, luận án đã triển khai phân tích SEM và kiểm định cấu trúc đa nhóm (MGA) trên mẫu khảo sát quy mô quốc gia gồm hơn 1.000 sinh viên tại 14 trường đại học trên cả nước, đảm bảo tính đại diện và độ chuẩn xác thống kê vượt trội.

  3. Phát hiện thực nghiệm gây bất ngờ nhất là gì? Phát hiện về tác động âm và yếu của biến "Cơ chế chính sách của chính phủ" tới dự định khởi sự của sinh viên. Kết quả này phản ánh nghịch lý thực tế: dù chính sách ban hành nhiều nhưng độ phức tạp về thủ tục hành chính và sự thiếu thực chất trong triển khai khiến sinh viên cảm thấy e ngại và hoài nghi khi tiếp cận.

  4. Nghiên cứu có cung cấp quy trình lặp lại (Replication Protocol) không? Luận án cung cấp chi tiết toàn bộ thang đo chuẩn hóa, cấu trúc bảng hỏi, quy trình chọn mẫu phân tầng, các chỉ số độ tin cậy Cronbach's Alpha, hệ số tải nhân tố EFA/CFA và cú pháp phân tích trên AMOS 22, cho phép tái lập nghiên cứu hoàn toàn trên các bối cảnh mới.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tới được định hình ra sao? Định hình hướng tiếp cận liên ngành giữa Kinh tế học Hành vi, Khoa học Thể chế và Tâm lý học Giáo dục, trọng tâm là phân tích biến động nhận thức theo thời gian và đánh giá tác động của môi trường số hóa (Digital Entrepreneurship) đến hành vi lập nghiệp của thế hệ trẻ.

Kết luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về khởi sự kinh doanh và khẳng định sự phù hợp vượt trội của Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi.
  2. Xây dựng và kiểm định thành công mô hình cấu trúc tuyến tính mở rộng tích hợp 9 cấu phần lý thuyết, chứng minh cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của các yếu tố bối cảnh môi trường.
  3. Giải mã thành công vai trò trung gian toàn phần của các yếu tố thái độ cá nhân trong mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hội, vốn quan hệ xã hội với dự định khởi sự kinh doanh.
  4. Xác lập bằng chứng thực nghiệm vững chắc về tính bất biến cấu trúc theo giới tính và chuyên ngành đào tạo của sinh viên đại học Việt Nam.
  5. Cung cấp hệ thống giải pháp và hàm ý quản trị khả thi, đóng góp thiết thực vào việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia.