CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIEN CUU VA CO SO LY THUYET 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu các nhân tỗ ảnh hướng tới dự định khởi sự kinh doanh Khởi sự kinh doanh trong những năm gần đây nhận được sự quan tâm từ các nhà hoạch định chính sách, các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu bởi khởi sự kinh doanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, sự phát triển ôn định của xã hội và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động của các quốc gia trên thế giới. Các nhân tế tác động tới dự định khởi sự kinh doanh rất đa đạng từ đặc điểm tính cách cá nhân, môi trường, văn hóa, thể chế, cho đến các yếu tố động lực như mong muốn khẳng định bản thân.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về khởi sự kinh doanh vẫn chưa thống nhất được những yếu tố nào là những yếu tố chính ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh. Vì vậy phần tổng quan nghiên cứu này tác giả sẽ trình bày tóm lược các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới dự định trở thành doanh nhân của sinh viên Đại học. Tổng quan các công trình nghiên cứu các nhân tố (yếu tố) ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh được trình bày trong bảng 7 (Phụ lục 1). Các công trình nghiên cứu trong phan này (93 công trình nghiên cứu) hầu hết được trình bày bằng tiếng Anh và được xuất bản trong các tạp chí uy tín từ năm 1996 cho tới 2019.
Nhìn chung, căn cứ theo nội dung thì các nhân tố (yếu tố) tác động tới dự định khởi sự kinh doanh có thể được chia thành 04 nhóm nhân tố: Thứ nhất, nhóm nhân tô liên quan tới đặc điểm (tính cách) cá nhân (Personality Traits): Theo két quả tổng quan các công trình nghiên cứu thì đặc điểm (tính cách) cá nhân nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ các nhà nghiên cứu và cũng được coi là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất tới dự định khởi sự kinh doanh (Altinay va cOng sự, 2012). Những đặc điểm (tính cách) cá nhân ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh của một người gồm có: Sự tự tin (self-confidence) (Baughn và cộng sự, 2006; Camelo-Ordaz và cộng sự, 2016; Esfandiar và cộng sự, 2017; Gerba, 2012; Hsu và cộng sự, 2018; Haddoud, 2019; Kolvereid, 1996a; Lee và cộng sự, 2009; Peng và cộng sự, 2012; Turker và Selcuk, 2009; Tolentino và cộng sự, 2014; VirzI và cộng sự, 2015; Nowiáñski và Zaremohzzabich và cộng sự, 2019), thiên hướng chấp nhận rủi ro (Altinay và cộng sự, 2012; Gurel và cộng sự, 2010; Khương và An, 2016; Luthuje và Franke, 2003; Naushad, 2018; Walter và cộng sự, 2013), khả năng tự kiểm soát (Altnay và cộng sự, 2012; Gurel và cộng sự, 2010; 10 Khuong va An, 2016; Luthuje va Franke, 2003; Naushad, 2018), tính sáng tạo-thích đổi mới (Hormiga và cộng sự, 2013; Kakkonen, 2004; Opoku-Antwi và cộng sự, 2012; Nsereko và cộng sự, 2018), tính độc lập (Carter và cộng sự, 2003; Fernández-CorneJo và cộng sự, 2018; Hajer và Habid, 2013;Uddin và Bose, 2012).Ngoài ra, một số nhân tố như phong cách sống hay khả năng chịu đựng cũng thuộc nhóm nhân tố đặc điểm (tính cách) cá nhân (Lin và cộng sự, 2017). Thứ hai, nhóm yếu tổ liên quan tới động lực cá nhân (Personal Motivation): Barba- Sanchez & Atienza-Sahuquillo (2017) cho rằng nhu cầu kiếm thêm thu nhập và mong muốn độc lập (tài chính, thời gian) ảnh hưởng mạnh tới dự định khởi sự kinh doanh. Trong khi đó Segumpan và Zahari (2012) thì cho rằng ngoài nhu cầu kiếm thêm thu nhập, mong muốn có vị trí trong xã hội và thích sự chuyên nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng tới dự định khởi sự kinh doanh.
Perri và cộng sự (2012) lại chỉ ra rằng chính mong muốn có thêm thu nhập và thiếu cơ hội việc làm thích hợp lại là động lực chính đề người ta khởi sự kinh doanh ở Trung Quốc và Việt Nam.Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng chính nhu cầu làm giàu và mong muốn khẳng định bản thân là động lực quan trọng đề khởi sự kimh doanh (Camelo-Ordaz và cộng sự, 2016; Kautonen và cộng sự, 2013; Liargovas và Skandalis, 2012; Lin va Si, 2014; Tkachev va Kolvereid, 1999; Van Gelderen va cộng sự, 2008; Smith va Beasley, 2011). Ngoai ra, một số nhân tố (yếu tố) như mong muốn cân bằng cuộc sống và công việc cũng là động lực ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh (Brice va Nelson, 2008; Franco và cộng sự, 2010; Pruett và cộng sự, 2009). Thứ ba, nhóm yếu tổ liên quan tới môi trường và bối cảnh (Contextual Environment): Cac yéu té lién quan tới môi trường và bối cảnh có thê thúc đây hoặc ngăn cản các hoạt động khởi sự kinh doanh, ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh thông qua cảm nhận về lợi ích hay bất lợi khi tiến hành khởi sự (Franke và Luthje, 2004). Trong đó, bối cảnh văn hóa được coi là một trong các yếu tố có mối quan hệ tương quan mạnh tới dự định khởi sự kinh doanh (Adekiya và Ibrahim, 2016; Bogatyreva và cộng sự, 2019; Miranda va cong sự, 2017; Lin và cộng sự, 2017; Shirokova và cộng sự, 2015; Ismail và cộng sự, 2012), và mong muốn khởi sự kinh doanh (Baughn và cộng sự, 2006).
Sự phát triển cơ sở hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đây các hoạt động khởi sự kinh doanh (Khương và An, 2016). Ngoài ra, bối cảnh về chính trị, xã hội và kinh tế ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh cũng được xem như nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh trong các nghiên cứu về khởi sự kinh doanh gần day (Bonesso va cộng sự, 2018; Esfandiar va cong su, 2017; Lin va Si, 2014; Lin va cong sự, 2017; Shiri và cộng sự, 2012; Shirokova và cộng sự, 2015; Siu và Lo, 2013). Đặc biệt, những năm gần đây, mối quan hệ g1ữa môi trường giáo dục-đào tạo (học đại học, giáo dục 11 và đào tạo về khởi sự kinh doanh) và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên được quan tâm nghiên cứu hơn cả (Adekiya và Ibrahim, 2016; Gordon va Bursuc, 2018; Barba- Sanchez & Atienza-Sahuquillo, 2017; Barral và cộng sự, 2018; Hunady và cộng sự, 2018; Farashah, 2013; Miranda va cộng sự, 2017; Shinnar và cộng sự, 2014; Shirokova và cộng su, 2015; Virzi va cong sur, 2015). Thứ tư, nhóm yếu tô liên quan tới nhân khẩu học và nên tảng cá nhân (Personal Background): Wang và Wong (2004) chỉ ra rằng giới tính, nền tảng gia đình và trình độ học vấn có ảnh hưởng đáng kể tới dự định khởi sự kinh doanh của một người.
Mặc dù tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy tuổi không ảnh hưởng nhiều tới dự định khởi sự kinh doanh, nhưng Kristian và Indarti (2004) cho rằng doanh nhân thành công trong khởi sự thường tiến hành khởi sự kinh doanh khi họ còn trẻ. Nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng nam giới có dự định khởi sự kinh doanh cao hơn nữ giới, nhưng nghiên cứu của Varghese và Hassan (2012) lại cho thấy kết quả ngược lại, tức là nữ giới có dự định khởi sự kinh doanh cao hơn nam giới bởi họ sáng tạo hơn và có nhiều ý tưởng kinh doanh mới. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kinh nghiệm kinh doanh và làm việc cũng có ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh (Asamami và Mensah, 2013; Barral và cộng sự, 2018; Bonesso và cộng sự, 2018; Hsu và cộng sự, 2018; Liãán và Chen, 2006; Liguori và cộng sự, 2018; Miranda và cộng sự, 2017; Peng và cộng sự, 2012; Paul và Shrivatava, 2016; Paul va Shrivatava, 2016; Siu va Lo, 2013; Zaremohzzabieh va cộng sự, 2019). Tại Việt Nam, vấn đề khởi sự kinh doanh và hướng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh cũng nhận được sự quan tâm từ nhiều học giả, các nhà nghiên cứu.
Bảng 2 (Phụ lục 1) trình bày tổng hợp của tác giả về một số nghiên cứu về vấn đề khởi sự kinh doanh và dự định khởi sự kinh doanh trong bối cảnh của Việt Nam. Trong luận án tiến sĩ được bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân, tác giả Nguyễn Thu Thủy (2015) kiểm định tác động của các yếu tố trải nghiệm cá nhân và một số yếu tô môi trường tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên Đại học ở Việt Nam. Trọng tâm nghiên cứu này là nghiên cứu định lượng để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu, tuy nhiên tác giả cũng đã thực hiện nghiên cứu sơ bộ định tính và nghiên cứu sơ bộ định lượng trước khi nghiên cứu định lượng chính thức. Nghiên cứu này đã chỉ ra trải nghiệm cá nhân (trong đó bao gồm cả các trải nghiệm thu được trong quá trình học đại học) có ảnh hưởng thuận chiều tới tiềm năng khởi sự của sinh viên.
Ngoài ra, các hoạt động định hướng khởi sự kinh doanh trong quá trình học đại học, học môn khởi sự kinh doanh có tác động tích cực tới mong muốn khởi sự kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu này cũng đã phát triển thước đo và xác định thêm được một nhân tố ảnh hưởng tới mong muốn khởi sự kinh doanh và sự tự tin khởi sự kinh doanh đó là “mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa khởi 12 sự kinh đoanh ”. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa nghiên cứu mối quan hệ tiềm năng khởi sự kinh doanh tới dự định khởi sự kinh doanh hay ảnh hưởng của văn hóa tới dự định khởi sự kinh doanh. Luận án tiến sĩ nghiên cứu về “tăng cường khả năng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam” được tác giả Ngô Quỳnh An (2012) bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân, nghiên cứu này chỉ ra mặc dù gia đình đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ, khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm song có bằng chứng thống kê cho thấy bên cạnh việc gia đình, người thân hỗ trợ thì mạng lưới vốn xã hội giao tiếp rộng hơn khi thanh niên tham gia các câu lạc bộ, các hiệp hội nghề nghiệp, tọa đàm.
và vốn xã hội liên kết có sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức trong và ngoài nước, các ban ngành, đoàn thanh niên. đã thúc đây thanh niên tự tạo việc làm trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế Việt Nam. Mặc đủ giải quyết được câu hỏi “yếu tố nào ảnh hưởng tới khả năng tự tạo việc làm của thanh niên” song luận án này chưa xem xét tới “dự định khởi sự kinh doanh” và mẫu nghiên cứu là thanh niên, những người trong độ tuổi từ 18 tới 25 tại Việt Nam. Các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh cũng một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam thực hiện.