Chương 1 | KHAI NIEM, CAC NHAN TO CAU THANH LAP DIA 1. Khái niệm Lập địa theo tiếng Đức là “Standort” được ghép từ hai ehữ “Stand” có nghĩa là trạng thái, còn “Ort” có nghĩa là địa phương, vậy danh từ Standort có nghĩa là hoàn.cảnh tự nhiên ở một địa phương, hay địa bàn cụ thể nào đó. Tiếng Anh lập địa là Site, tiếng Pháp “Station” Có rất nhiều định nghĩa về lập địa nhưng có thé hiểu bản chất của khái niệm là “Lập địa là một phạm vi lãnh thổ nhất định với tắt cả những yếu tố của ngöại cảnh ảnh hưởng tới sinh trưởng của sinh vật mà chủ yếu là thực vật”. Lập địa theo n§hĩa.hẹp bao gồm 3 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và lập địa theo.nghĩa rộng bao gồm 4 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thế giới động thực vật.
Phương pháp này nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau, giữa các thành phần tự nhiên với thực vật (là chủ yếu) trong một không gian nhất định và được cụ thể hóa trên bản đề. Đại diện cho cách làm này có Krauss (1935, 1954), Kopp (1965, 1969), và W.'Ở Liên xô cũ-lập địa được gọi là điều kiện nơi sinh trưởng, nghĩa là tác động tổng hợp của các yếu tố ngoại cảnh hình thành nên các kiểu rừng nhất định và ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của thực vật rừng. Nói tới lập địa, cần đề cập 2,van dé chinh: (i) vị trí địa lý của lập địa; đi) - điều kiện môi trường tồn tại ở một vị trí nhất định. Trong lâm nghiệp, lập địa được hiểu là lập địa rừng (forest site).
Chất lượng lập địa nhằm chỉ sức sản xuất của cây rừng hoặc của các loại thực bì khác nhau trên lập địa đó. Vì vậy, chất lượng lập địa luôn gắn với một loài cây hay nhóm loài cây nhất định. Có lập địa thích hợp, có lập địa không thích hợp với loài cây. Chất lượng lập địa được quyết định bởi các nhân tố: khí hậu, địa hình, đất và sinh vật.
Một lập địa, nếu trồng các loài cây khác nhau thì chất lượng lập địa có thể sẽ khác nhau, tùy thuộc vào loài cây trồng. Điều kiện lập địa nhằm chỉ tổng hợp các nhân tố cấu thành nên lập địa. Chất lượng lập địa và điều kiện lập địa là hai thuật ngữ thường được sử dụng như nhau. Khi đánh giá chất lượng lập địa thường tiến hành phán đoán hoặc dự báo sức sản xuất hiện (ại của lập địa.
Mục đích của việc đánh giá chất lượng lập địa là dự báo sản lượng cây trồng, lượng Hóa sức sản xuất của đất hoặc là phân chia lập địa thành những đơn vị có sức sản xuât đồng nhất. - Phân chia lập địa đề đánh giá sức sản xuất tiềm tàng của nó. Theo mục tiêu này, các nhân tô cấu thành lập địa sẽ được sử dụng dé phân chia lập địa, được chia thành các thang 5 bậc nhất định, sau đó tổ hợp lại sẽ xác định được các đơn vị lập địa cần phân chia. Hướng này không trực tiếp gắn với loài cây trồng cụ thể nào đó.
- Phân chia lập địa theo mức độ thích hợp của loài cây trồng. Theo mục tiêu này, mức độ thích hợp của loài cây với điều kiện lập địa nơi mọc được biểu thị thông qua các chỉ tiêu mong đợi gắn với từng mục đích kinh doanh rừng cụ thể, như sản lượng gỗ, tăng trưởng tầng cây gỗ, sản lượng và chất lượng quả, sản lượng và chất lượng nhựa, vỏ. Hướng này trực tiếp gắn với từng loài cây cụ thể dự định đem trồng. Các nhân tố cấu thành lập địa Như phần khái niệm đã trình bày, lập địa có nghĩa hẹp và nghĩa rộng; theo nghĩa hẹp với 3 thành phần tự nhiên: khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng, Đây là 3 thành phần cơ bản để xem xét và định giới khi muốn xác lập các cá thể của bất kì một cấp phân vị nào, ý nghĩa và tác dụng của từng thành phần có thể tóm tắt như sau: - Thành phân khí hậu: Trong các thành phần tự nhiên tham gia vào lập địa lâm nghiệp thì thành phần khí hậu được coi là thành phần chủ đạo bởi vì khí hậu là nhân tố sinh thái quan trọng hàng đầu quyết định sự phân bố một loài cây, mỗi loài cây đều có một điều kiện khí hậu thích hợp và giới hạn thích ứng, nói một cách khác mỗi loài cây đều.có trung tâm phân bồ tự nhiên, ở đó cây sinh trưởng phát triển tốt nhất, khá năng thích ứng với đất, sức đề kháng với sâu bệnh, tuổi thọ, phẩm chất gỗ.
đều cao, càng gần biên giới khu phân bố tự nhiên sinh trưởng và phát triển càng kém dẫn, các loài cây khác nhau, trong khu phân bố tự nhiên rộng hẹp khác nhau, trong việc chọn loài cây trồng cần phân biệt rố khí hậu thích hợp với khí hậu mà nó có thể thích ứng. Nguyễn Xiển (1975) đã khẳng định mối quan hệ giữa khí hậu và sản xuất nông lâm nghiệp: “Muốn xác định thời Vụ, muốn phân bồ một cơ cấu cây trằng, vật nuôi hợp lý thì một trong những chỗ dựa cần thiết và khoa học là phân vùng khí hậu ”. - Thành phân địa hình: Địa hình có liên quan chặt chế với khí hậu và thổ nhưỡng, là thành phần quan trong phân bố lại nguồn năng lượng mặt trời, tạo ra hiện tượng che chắn gió và mưa, địa hình ảnh hưởng đến tiểu khí hậu, là thành phần tạo ra chế độ thoát nước khác nhau quyết định đến quá trình hình thành đất. Do đặc điểm trên mà A.
Grigoriev (1972) cho rằng: “Vì đặc tính của dịa hình có'ảnh hưởng quan trọng đến cấu trúc của quá trình địa lý tự nhiên nên một cách hợp lý là xép dấu hiệu này vào loại thứ hai”. Ngoài các mối liện:hệ với môi trường, địa hình còn liên quan đến sản xuất. Vì vậy trong phân vùng-lập địa lâm nghiệp thành phần địa hình được khai thác thêm ở khía cạnh sản xuất. Căn cứ Vào kiểu địa hình (núi, đổi, cao nguyên, đồng bằng.) và độ dốc của chúng, các nhà sản xuất và đầu tư đã thấy được khó khăn hoặc thuận lợi, dự toán về vốn mà họ phải bỏ ra ban đầu cho mỗi đơn vị sản xuất cụ thể.
6 - Thanh phan thé nhưỡng: Thổ nhưỡng chịu sự chỉ phối hoặc phụ thuộc vào nhiều yếu tế như khí hậu, địa hình, đá mẹ, tác động của con người. Thổ nhưỡng là vật mang các hệ sinh thái và quyết định năng suất rừng vì vậy không thể thiếu thành phần này trong quá trình phân chia lập địa. Về phân loại đất ở Việt Nam (Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2000),'gồín 13:nhóm đất và 30 loại, cụ thể như sau: 1. Đất cồn cát trắng, vàng 2.
Đất cồn cát đỏ 3, Đất cát biển I, Dat mặn 4. Dat man sti vet 5. Đất mặn kiềm III. Dat phèn nhiều §.
Đất phèn trung bình và ít IV. Đất lầy và than bàn 9. Dat than bin. Đắt phù sa 11,Đất phù sa hệ thống sông Hồng 12.
Đất phù sa hệ thống sông Cửu Long 13, Dat phù sa hệ thống sông khác VI. Đất xám bạc màu 14, Dat xám bạc màu trên phù sa cổ 15. Đất%ám bạc rmàu giầy trên phù sa cổ 16. Đấtxám bạc màu trên sản phẩm phá hủy của đất Mác ma axít và đá cát VII.
Đất đen IX. Dat dé vang (Dat Feralit). Phân bố ở các độ cao: - miền Bắc: 25- 700, 900m - miền Nam: 5Ø- 900, 1000m - Cao nguyên: 1500m trở xuống. Đất nâu tím trên đá mác ma bazơ và trung tính, 20.
Đất nâu đỏ trên đá mác ma bazơ và trung tính, 21. Đất nâu vàng trên đá mác ma bazơ và trung tính, 22. Đất đỏ nâu trên đá vôi, 23. Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, 24.
Đất vàng đỏ trên đá mác ma axít, 25. Đất vàng nhạt trên đá cát, 26. Đất vàng nâu trên phù sa cổ X. Đất vàng đỏ trên núi - Miền Bắc: 700, 900- 2000m.
Đất mùn vàng đỏ trên núi XI. Đắt mùn trên núi cao (từ 2000m trở lên) 28. Đất mùn trên núi cao XII. Dat pdtdon XIII.
Đất xói mòn trơ sỏi đá - Thành phân thựê vật: Các hệ sinh thái rừng nguyên sinh là bằng chứng quan trọng chứng minh các điều kiện sinh thái đã hình thành và đảm bảo sự tồn tại lâu đời của chúng trên các vùng lãnh thổ Việt Nam. Song, trong quá trình phát triển lâu đời, chính các nhân tố sinh thái cũng thay đổi hoặc từ từ, hoặc đột xuất, đặc biệt là nhân tố con người (nhân tác) đã để lại cho thế hệ chúng ta một bức khẩm phong phú nhưng quá phức tạp các loại rừng, đa phần là thứ sinh hoặc nhận-tạo, mà vừa được trình bày tóm tắt cả phương pháp luận, cả hiệu quả áp dụng của từng hệ thống để cỏ'đủ cơ sở chọn lọc các kiểu rừng chính (tương đương hệ sinh thái) trong phân vùng lãnh thô. Trong ác kiểu rùng đã chọn lọc bao gồm đầy đủ các kiểu rừng tự nhiên, nguyên sinh, thứ sinh đang trong quá trình diễn thế và cũng đã đưa vào cả các hệ rừng trồng, các loại thám thực vật chưa thành rừng (tráng, truông theo Thái văn Trừng, 1963, 1970; Ib, Ic theo phân loại hiện trạng bổ sung) để bao quát mọi trạng thải thảm thực vật rừng. Cac kiéu rừng chủ yếu ở Việt Nam Ký hiệu Kiểu rừng Rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm; các kiểu phụ: 1a: Vùng thắp, < 500m ở MB, < 700m ở MN.
1 1b: Vùng tháp Nam bộ, ưu hợp họ Dầu 1c: Đồi, núi thấp và trung bình 500-1500m ở MB, 700-2000m ở MN 1d: Núi cao > 1500m ở MB, >2000m ở MN Rừng hỗn loài nửa rụng lá ‹oÌœ|¬loœ|olel|o|Mð Rừng hỗn loài trên núi đá vôi Rừng lá kim, hỗn loài lá rộng lá kim Rừng thưa, khô lá rộng rụng lá theo mùa, ưu thế họ Dầu.(khộp) Rừng ngập mặn ven biển Rừng úng phèn (rừng Tràm) Rừng tre nứa và hỗn loài cây gỗ + tre nứa Rừng tròng các loại Bat lâm nghiệp không có rừng, 10a: Đắt trồng, cỏ thưa 10b: Thảm cỏ cây bụi 5° 10c: Thảm cây bụi có cây gỗ tái sinh (>200 cây/ha), - Hoạt động sản xuất của con người Ngày nay hoạt động sản xuất của con người có tác động rất mạnh tới quá trình hình thành lập địa. Tác động của con người được thê hiện chủ yếu thông qua các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông lâm nghiệp. CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN MỞ RỘNG Câu 1: Thế nào là lập địa? Khái niệm lập địa theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng về các nhân tố cấu thành lập địa có gì khác nhau, tại sao?