CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu về cây trà 1.1 Đặc điểm của cây trà. Cây Trà hay cây Chè có tên khoa học là Camellia sinensis. Tên gọi sinensis có nghĩa là "Trung Quốc" trong tiếng Latinh. Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea và Thea viridis [2].
Đỗ Ngọc Quý, Cây chè Việt Nam: sản xuất chế biến và tiêu thụ. Nghệ An: Nhà xuất bản Nghệ An, Năm 2003. Ngành hạt kín Angiospermatophyta. Lớp 2 lá mầm Dicotyledenae.
Bộ trà Theales. Họ trà Theaceae. Chi trà Thea. Loài Camellia (Thea) sinensis.
Cây trà (chè) ở Lâm Đồng Trà là một cây khỏe, mọc hoang, không cắt xén có thể cao tới 10m hay hơn nữa, đường kính thân có thể tới mức một người ôm không xuể. Đôi khi mọc thành rừng gỗ trên núi đá cao. Nhưng trong khi trồng tia thường người ta cắt xén để tiện việc hái nên chỉ cao nhất là 2m. Nhiều cành đâm ngay từ gốc.
Lá mọc so le, không rụng. Hoa to trắng, mọc ở kẽ lá mùi rất thơm, nhiều nhị. Quả là một nang thường có ba ngăn, nhưng 4 chỉ còn một hạt do các hạt khác bị teo đi. Quả khai bằng lối cắt ngang, hạt không phôi nhũ, lá mầm lớn, có chứa nhiều dầu.2 Đặc điểm phân bố Trà có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Nhân dân Trung Quốc đã biết dùng trà từ 2500 năm TCN. Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây trà là Thea sinensis, xác định cây trà có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây trà là Ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây trà đã kéo dài trên hai thế kỷ.
Cây trà được trồng nhiều tại vành đai nhiệt đới, khu vực khí hậu ôn hòa, ẩm ướt từ 30 độ vĩ nam (Natan – Nam phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruria – Liên Xô cũ). Hiện tại có khoảng 30 nước trồng trà, trà được tập trung trồng nhiều nhất ở châu Á sau đó đến châu Phi. Những nước trồng trà phổ biến là: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Nhật Bản, Indonexia, Nga, Đài Loan, Việt Nam … Ở nước ta, trà được trồng nhiều nhất tại các tỉnh Phú Thọ, rồi tới Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, các tỉnh miền Nam cũng trồng rất nhiều. Dựa vào đặc tính sinh trưởng của cây chè, các nhà thực vật học xác định vùng đất mà cây chè có thể xuất hiện và sinh trưởng tốt phải có những điều kiện sau : Quanh năm không có sương muối.
Có mưa đều quanh năm với lượng mưa trung bình khoảng 3000 mm/ năm. Nằm ở độ cao 500-1000 mm so với mực nước biển, môi trường mát mẻ, không nắng quá hoặc ẩm quá. Những vùng đất thỏa mãn các điều kiện trên là: Nửa phía nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Bắc Việt Nam.
Bắc Miến Điện, Thái Lan và Lào. Vùng núi phía đông bang Assam của Ấn Độ. 5 Cây trà sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên chỉ có một thân chính, chia làm 3 loại: thân gỗ, thân bụi, thân nhỡ (bán gỗ). Cành trà do mầm sinh dưỡng phát triển thành, trên cành chia ra nhiều đốt, chiều dài biến đổi nhiều từ 1 ÷ 10cm.
Đốt trà càng dài là biểu hiện của giống trà có năng suất cao. Lá trà mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá, hình dạng và kích thước thay đổi tùy giống. Lá trà có gân rất rõ, rìa lá có răng cưa. Búp trà là giai đoạn non của một cành trà, được hình thành từ các mầm dinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non trên đỉnh chưa xòe) và 2 hoặc 3 lá non.
Kích thước của búp trà thay đổi tùy giống và kỹ thuật canh tác. Cây trà sau khi sinh trưởng 2 ÷ 3 tuổi bắt đầu ra hoa, mọc từ chồi sinh thực ở nách lá. Trà là cây lâu năm, có chu kỳ sống rất lâu, có thể đạt 60 ÷ 100 năm hoặc lâu hơn. Tuổi thọ kinh tế tối đa của một cây trà thương mại vào khoảng 50 ÷ 65 năm tùy thuộc điều kiện môi trường và phương pháp trồng trọt.
Trà cho năng suất cao vào mùa mưa từ tháng 5 ÷ 11, sau 10 ÷ 15 ngày thì thu hoạch một lần. Trà nguyên liệu sử dụng trong công nghiệp chế biến chủ yếu là 1 tôm và 2 ÷ 3 lá non [3]. Đào Thị Kim Nhung, "Nghiên cứu sử dụng các hợp chất polyphenol trong một số giống chè ở Việt Nam," Hà Nội, 2010.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ trà ở Việt Nam và phương hướng phát triển đến năm 2010. Viêt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho cây trà sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên loại cây này chỉ mới được quan tâm và đầu tư từ những năm đầu thế kỷ 20 trở lại đây.
Giai đoạn 1890-1945: Những đồn điền trà thành lập ở Tĩnh Cương (Phú Thọ) 60 ha, Đức Phổ (Quãng Nam) 230 ha. Trong nhũng năm 1925-1940 Pháp mở thêm các đồn điền trà ở Cao nguyên Trung bộ khoảng 2750 ha. Đến năm 1938 Việt Nam đã có 13405 ha trà vơi sản lượng 6100 tấn trà khô, phân phối chủ yếu vùng Bắc bộ và Cao nguyên Trung bộ, trong đó 75% diện tích do người Việt Nam quản lý. Đến năm 1939, Việt Nam đạt sản lượng 10900 tấn trà khô, đứng thứ 6 trên thế giới sau Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Nhật Bản, Insdonesia.
6 Đặc điểm nổi bật giai đoạn này là diện tích trà bị phân tán, sản xuất mang tính tự cung tự cấp, kỹ thuật thô sơ. Giai đoạn 1945-1954: Do ảnh hưởng của chiến tranh, sản xuất trà bị đình trệ, diện tích và năng suất giảm nhanh. Giai đoạn 1954-1990: Sau chiến tranh, sản xuất trà được phục hồi trở lại, nhiều cơ sở trà được thành lập. Năm 1970 trà phát triển mạnh.
Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi vào sản xuất đã góp phần tăng nhanh sản lượng và diện tích trà ở Việt Nam. Từ năm 1980-1990 diện tích trà tăng từ 46,9 nghìn ha lên đến 60 nghìn ha (tăng 28%), sản lượng tà tăng từ 21,0 nghìn tấn lên 32,2 nghìn tấn khô (tăng 53,3%). Giai đoạn 1990 đến nay: Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu tư ưu tiên phát triển cây trà. Cây trà được xem là cây trồng có khả năng xóa đói, giảm nghèo và làm giàu của nhiều hộ nông dân.
Do đó, diện tích, năng suất và sản lượng trà không ngừng tăng lên từ năm 90 trở lại đây [4]. Bộ môn Dược liệu – ĐH Dược Hà Nội, ĐHYD TP. HCM, Bài giảng dược liệu 1, ĐH Dược Hà Nội, Hà Nội, 1998, 362- 374. Diện tích, năng suất, sản lượng trà Việt Nam giai đoạn 1999-2006.
Năng suất Sản lượng khô Xuất khẩu Năm Diện tích (ha) (tạ khô/ha) ( tấn) (tấn khô) 1999 69500 10,11 70300 36000 2000 70300 9,94 69900 55600 2001 80000 9,46 75700 67900 2002 98000 9,61 94200 74800 2003 99000 9,54 94500 62000 2004 102000 9,51 97000 95000 7 2005 122500 9,30 114000 87920 2006 122700 9,97 122400 97749 ( Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2007) Hiện nay nước ta có trên 150 đầu mối xuất khẩu trà, trà Việt Nam hiện đã thâm nhập vào thị trường khoảng 40 nước trong đó chủ yếu là Irac, Pakistan và Đài Loan, ngoài ra là các thị trường như Nga, Anh, Mỹ, Nhật Bản [6]. Tuyen, “Miccrowave-asisted extraction of polyphenols from tea shoot”, Science & Technology Development, Vol 9, No. … Thương hiệu trà Việt Nam mang tên VINATEA đã trở nên tin cậy, gần gũi và quen thuộc với rất nhiều quốc gia nhập khẩu, phân phối và tiêu thụ trà; Thậm chí ngay cả quốc gia xuất khẩu trà lớn nhất trên thế giới là Ấn Độ cũng nhập khẩu sản phẩm trà của Việt Nam. Tình hình xuất khẩu trà của Việt Nam năm 2006.
Thị trường Số lượng (tấn) Đơn giá (USD/tấn) Giá trị (USD) Pakistan 23940 1165,7 27906858 Đài Loan 18459 1053,9 19453940 Ấn Độ 11074 740,8 8203619 Nga 10364 978,6 10142210 Trung Quốc 7622 999,2 7615902 Irac 3312 1366,5 4525848 Các nước khác (22 22978 1013 23276714 nước) Tổng số 97749 101125091 (Nguồn: www.vn) Năm 2006, sản lượng trà xuất khẩu đạt 97749 tấn, tăng 11,12% so với sản lượng xuất 8 khẩu năm 2005. Đứng đầu danh sách nhập khẩu trà Việt Nam năm 2006 là Pakistan, Đài Loan, Ấn Độ và Nga. Tuy nhiên, thị phần trà Việt Nam ở những nước này vẫn còn nhỏ bé và đang bị cạnh tranh gay gắt, Irac là thị trường có giá xuất khẩu cao hơn các nước khác, nhưng từ đầu năm 2003 do ảnh hưởng của chiến tranh, xuất khẩu trà ở thị trường này đang gặp phải những khó khăn nghiêm trọng.4 Những lợi thế và khó khăn trong sản xuất trà của Việt Nam.1Những lợi thế Lợi thế đầu tiên phải kể đến là tiềm năng về đất đai và sự phân bố đất đai trên nhiều miền khí hậu khác nhau, các vùng khí hậu khác nhau đã hình thành các vùng sản xuất sản phẩm hàng hóa đa dạng khác nhau. Nước ta là một nước có nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, 70% lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp, hiện nay đang thiếu việc làm, công lao động lại rất thấp.
Nước ta có hệ thống cảng biển, cảng sông, giao thông đường sắt, đường bộ và hàng không có thể giao lưu thuận lợi các châu lục và các nước trong khu vực tạo điều kiện cho việc vận chuyển thuận lợi. Từ khi thay đổi cơ chế, hệ thống giao thông của nước ta đã được đầu tư nâng cấp bước đầu đáp ứng được yêu cầu giao lưu thuận tiện trong nước và quốc tế. Đường lối chính sách đổi mới kinh tế của nước ta đã được mở rộng, tự do hóa thương mại, hòa nhập thị trường Quốc tế. Các chính sách, luật đã tạo hành lang thông thoáng cho các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh.
Đã có nhiều chính sách khuyến khích mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước có điều kiện thuận lợi để tham gia liên doanh liên kết đầu tư phát triển sản xuất. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cũng ngày càng được Nhà nước quan tâm và ngày càng được nâng cao, thông qua nhiều kênh để đến với người sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và công nghệ sản xuất.2Những khó khăn. 9 Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công nên quá trình sản xuất của các hộ nông dân tạo ra nguyên liệu ban đầu chất lượng chưa cao, công nghệ sau thu hoạch chủ yếu còn lạc hậu nên thất thoát về lượng cũng chiếm khoảng từ 10-15%, sự thất thoát về chất lượng bị giảm đi còn chưa tính được.