Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn tring Cửu Long tạo khác. Vào đầu Kainozoi do sự va mạnh ở góc hội tụ Tây Tạng giữa các mảng An Độ và Âu-Á làm vi mảng Indosina bị thúc trồi xuống Đông Nam theo các đứt gãy trượt bằng lớn như đứt gãy sông Hồng, Sông Hậu - Ba Chùa, với xu thế trượt trái ở phía Bac và trượt phải ở phía Nam tạo nên các trũng Đệ Tam trên các đới khâu ven ria, trong đó có bổn tring Cửu Long. Kết qua là đã hình thành các hệ thống đứt gãy khác có hướng gan Đông Bắc- Tây Nam. Như vậy, trong bổn trũng Cửu Long bên cạnh hướng Đông Bắc - Tây Nam còn có các hệ đứt gãy có hướng cận ké chúng.
Trong Oligocene quá trình giãn đáy biển theo hướng Bắc - Nam tạo Biển Đông bắt dau từ 32 triệu năm. Trục giãn day biển phat triển lân dân xuống Tây Nam và đôi hướng từ Dong - Tây sang Đông Bắc - Tây Nam vào cuối Oligocen. Các quá trình này đã gia tăng các hoạt động tách giãn và đứt gãy ở bổn tring Cửu Long trong Oligocene và nén ép vào cuối Oligocene. Hoạt động nén ép vào cuối Oligocene muộn đã day trôi các khối móng sâu, gây nghịch đảo trong trầm tích Oligocene ở trung tâm các trũng chính, làm tai hoạt động các đứt gãy thuận chính ở dạng ép chờm, trượt bang va tạo nên các cau truc “trồi”, các cầu tạo dương/âm hình hoa, phát sinh các đứt gay nghịch ở một số nơi như trên cầu tạo Rạng Đông, phía Tây câu tạo Bạch Hồ và một số khu vực mỏ Rồng.
Đồng thời xảy ra hiện tượng bao mòn và vat mỏng mạnh các trầm tích thuộc hệ tâng Trà Tân trên. Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và không chỉnh hợp góc rộng lớn ở nóc trầm tích Oligocen đã đánh dâu sự kết thúc thời kỳ đồng tạo rift. Thời kỳ sau tạo rift: vào Miocene sớm, quá trình giãn đáy biển Đông theo phương Tây Bắc-Đông Nam đã yếu đi và nhanh chóng kết thúc vào cuối Miocen sớm (cách đây 17 triệu năm), tiếp theo là quá trình nguội lạnh vỏ. Trong thời kỳ đầu Miocene sớm các hoạt động đứt gãy vẫn còn xảy ra yếu và chỉ chấm dứt hoản toàn vào Miocene giữa-đến hiện tại.
Các trâm tích của thời kỳ sau rif có đặc điểm chung là: phân bố rộng. không bị biến vị, uốn nép va gan nhu nam ngang. Tuy nhiên, ở bổn tring Cửu Long các quá trình này van gây ra các hoạt động tái căng giãn yếu, lún chìm từ từ trong Miocene sớm và hoạt động nui lửa ở một số nơi, đặc biệt ở phần Đông Bắc bồn tring. Vào cuối Miocene sớm trên phan lớn diện tích bổn tring, nóc trầm tích Miocene dưới - hệ tang Bạch Hồ được đánh dau băng biến cé chìm sâu của bổn trũng với sự tạo thành tang “sét Rotaliđ” biển nông rộng khắp và tạo nên tầng đánh dấu địa tầng và tang chắn khu vực khá tốt cho toàn bộ bổn triing.
Cuối Miocene sớm toàn bổn trũng trải qua quá trình nâng khu vực và bóc mòn yếu. Vào Miocene giữa, lún chìm nhiệt tiếp tục gia tăng và biển đã có ảnh hưởng rộng lớn đến hầu hết các vùng quanh Biển Đông. Cuối thời kỳ này có một pha nâng lên, dẫn đến sự tái thiết lập điều kiện môi trường sôngở phan Tây Nam bén tring, còn ở phan Đông, Đông Bắc thi điều kiện ven bờ van tiếp tục được duy trì. HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 7 CBHD: TS.
Nguyén Quéc Quan Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn tring Cửu Long Miocene muộn được đánh dấu bang sự lún chìm mạnh ở Biển Đông và phần rìa của nó, khởi đầu quá trình thành tạo thêm lục địa hiện đại Đông Việt Nam. Núi lửa hoạt động tích cực ở phần Đông Bắc bổn tring Cứu Long, Nam Côn Sơn và phan đất liền Nam Việt Nam. Pliocene là thời gian biển tiễn rộng lớn và có lẽ đây là lần đầu tiên toàn bộ vùng Biển Đông hiện tại nam dưới mực nước biển. Các tram tích hạt min hơn được vận chuyển vào vùng bổn tring Cửu Long và đi xa hơn sẽ tích tụ vào bổn tring Nam Côn Son trong điều kiện nước sâu hơn.3 Các thành tạo địa chat Bồn tring Cửu Long được lấp đây bởi tập hợp các đất đá lục nguyên có tướng lục địa ven bờ chịu ảnh hưởng của biển, trong đó có tướng các châu thổ, giữa châu thổ, dưới châu thổ.
Bồn tring Cửu Long đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà địa chat với các phương pháp khác nhau như: địa chan địa tang, cổ sinh địa tầng, thạch địa tang, phân tích carota. Nhiều sơ đồ liên kết được nhiều tác giả đưa ra không những khác nhau về tên các địa tâng mà còn khác nhau vê ranh giới gitra chung. Ngày nay với những tài liệu mới về phân tích mẫu vụn, mẫu lõi và các tài liệu phân tích cổ sinh thu thập được từ các giếng khoan của các công ty dau khí trong nước cũng như nước ngoài đã khoan trong phạm vi bồn trũng Cửu Long cho thấy bổn tring bao gồm các thành tạo móng trước Kainozoi và các trầm tích Kainozoi phủ lên trên (hình 1. HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 8 CBHD: TS.
Nguyễn Quốc Quân Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn trũng Cửu Long .6 | +2] MOTATHACHHOC |" Moi trường|= TUOng!s © 2 = = L = =. ¬s|” | z§ tram tích |2: h š — ao: e | & = > wo) P| Su Š * ‹. «8 ~ da: ©) ce) CLIO Cát hạt thô, bd rời, sét, xen = < a kẽ lớp carbonat, than, hóa k2 © vỗ CLI thạch: Dacrydium. a = ” = (A) A ~ CL20 on < ws = “ CL2 Cát thô- mịn.
sét, các via s le 2 9 (BHU carbonat, than, hóa thạch: “4 E ⁄ a5 S «O Stenoclaena. 5 - a fal h © -Ã > = CL30 5 ễ eo ? re) a Š 2 CL3 Cát, sét, carbonat và than, =ẰS | s O & (BI) hóa thạch: F. 2 _ CL40 ˆ A | _ sò > Ð N CL4-I = ea bì Ke) (By | @ a SS & rs S'q& | Cát kết, bột kết, sét và sét cà < 5 = ` > ® | kết xen kẽ và hóa thạch: “3 E s fa) ở Í CHI Oe cea a oeclak i ae = ae +. es [sa] -2 , a4 ‘By | ® = X | Cá tia mạch đá magma mafic la ° > ~ CL§U | C1 (C) CLãI = = = Ke 1 c52 #-_.
| Sét kết, bột kết và cát kết = » 9 5 E (Db) | @ | = 5 g | xen xen kẽKe vàVa hóaNoa thạch: thạch: “. © | E Trilobata, Verutricolporites, = 5 = 4 CLS2 s3 — | Cieatricosiporites, & e “| © CL5-3 5 Có tia mach đá magma mafic ay < os 5 (E) ® 8 6| © CL60 kẻ = CL6-1 Sb £ 8 5 CL6L | ?: Cát kết, sét kết và cát bột =‘ a A < Œ2 E kết xen kẽ. Bào tử phấn: ES Ẽ (Fl). e = Oculopollis, Magnastriatites, a = 4 cL70 — 28 : Z = s2 : = SI 6 = = | Sạn cuội kết xen lớp sét Qs s Đ cL? = mỏng.
Bào tử phấn: Es 5 a < Ờ ~ | Trudopollis, Plicapollis rudopollis, Plicapollis. es š CL80 CLs + (M) ® = 8 Móng granit, granodiorit, 5. TRƯỚC KAINOZOI đá biến chất nứt nẻ.3: Cột địa tầng tổng hợp bồn trũng Cửu Long HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 9 CBHD: TS. Nguyễn Quốc Quân Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn tring Cửu Long 1.
Móng trước Kainozoi Về mặt thạch học đá móng có thê xép thanh 2 nhom chinh: granit va granodiorit — diorit, so sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma xâm nhập trên đất liền với đá móng kết tinh ngoài khơi bồn trũng Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối có thé xếp tương đương với ba phức hệ Hòn Khoai, Dinh Quán và Ankroet [4,tr. 282] có tudi từ Triat muộn đến Kreta muộn. Hau hết da móng bị biến đối bởi các quá trình kiến tạo và nhiệt dịch khắp nơi, ngay tại đỉnh của móng tồn tại đới phong hoá với chiều dày lên đến vài chục mét. Ngoài ra, đá móng còn bị xuyên cắt bởi đai mạch diabaz, diorit hay monzodiorit (9).
Phức hệ Hòn Khoai: có thể được xem là phức hệ đá magma cổ nhất trong móng của bổn trũng Cửu Long, phức hệ có tuổi Triat muộn, có giá trị tuổi đồng vị từ 195 đến 250 triệu năm. Thành phan thạch học chủ yếu là: diorit, amphybol, biotit, monzonit và adamelit. Đá bị biến đồi, cà nát mạnh. Phức hệ này phân bố chủ yếu ở phan cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ Bạch Hồ.
Phức hệ Định Quán: có tuổi Jura muộn, tudi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155 triệu năm. Thanh phan thạch học chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonit-biotit-thach anh. Đá thuộc loạt kiềm vôi, có thành phan acid vừa phải, hàm lượng SiO, dao động 63-67%. Các thành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ giập vỡ và biến đổi cao.
Trong đới biến đổi mạnh biotit thường bị clorit hóa. Phức hệ Dinh Quan khá phổ biến ở các cau tạo như: Bạch Hồ (vòm Bắc), Ba Vi. Phức hệ Ankroet: là phức hệ magma phat triển và gặp phổ biến trên toàn bộ bổn tring Cửu Long. Phức hệ nay có thành phan thạch học đặc trưng là đá granit hai mica, thuộc loại Natri-Kali, cao nhôm (AI=2.98%), S1O; (~69%) và nghèo Ca.
Đá có tuổi Kreta muộn, tuổi tuyệt đối khoảng 90-100 triệu năm. Các khối granitoid phức hệ magma xâm nhập này thành tạo đồng tao núi va phân bố dọc theo hướng trục của bề. Da bi dap vỡ, nhưng mức độ biến đổi thứ sinh yếu hơn so với hai phức hệ trước. Trong các thành tạo magma xâm nhập đã biết thường gặp các đai mạch có thành phần thạch học khác nhau từ acid đến trung tính-bazơ, bazơ và thạch anh.
Tại một số nơi, như khu vực mỏ Rồng còn gặp đá biến chất nhiệt động như paragneis hoặc orthogneis. Các đá này thường có mức độ giập vỡ và biến đổi kém hơn so với đá xâm nhập. HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 10 CBHD: TS.