phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm các nội dung như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở khoa học xây dựng CSDL chuỗi nhà hàng lẩu nướng khu vực nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực nghiệm ứng dụng GIS trong phân tích vị trí tối ưu của chuỗi nhà hàng lẩu nướng tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu về ứng dụng GIS trong phân tích vị trí tối ƣu 1.
Trên thế giới Một trong những ứng dụng cơ bản của GIS đó là xác định vị trí tối ưu cho một mục đích nhất định. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của dữ liệu lớn, việc phân tích, xác định vị trí đã phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ bất động sản đến quy hoạch, từ kinh doanh đến tiếp thị sản phẩm. Những ứng dụng về phân tích vị trí trong kinh doanh có thể kể từ các công trình của Weber [9] đầu thế kỷ 20 và Christaller về lý thuyết địa trung tâm (Central place theory) [29]. Theo quan điểm kinh tế của Walter Christaller, vị trí trung tâm tồn tại chính yếu là để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho dân số cư trú tại các khu vực chung quanh nó.
Nhưng nếu kể về thời kỳ xa hơn, lý thuyết về vị trí tối ưu đã Luận văn thạc sĩ Khoa học được các nhà toán học như Fermat, Torricelli đưa ra các bài toán kinh điển trong hình học và đại số. Năm 1826, Von Thunen [28] đề xuất mô hình đánh giá các hình thức canh tác nông nghiệp để phân tích giá đất thuê cho các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp. Tới những năm 1960 và 1970, với sự phát triển của công nghệ thông tin và năng lực xử lý dữ liệu của máy tính, khoa học về xác định vị trí đã có khả năng phân tích những mô hình phức tạp hơn [21]. Các mô hình vị trí đã cung cấp những công cụ & kỹ thuật hiệu quả trong xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định và phát triển các chiến lược dựa trên vị trí địa lý.
Theo Grant Thrall [26], có hai quy tắc để xác định vị trí của một khu vực kinh doanh, đó là khoảng cách và thời gian đi từ trung tâm vị trí đó ra các điểm phụ cận. Thông thường, người ta thường dùng một chuỗi các vòng tròn đồng tâm với bán kính khác nhau để xác định khoảng cách giữa khách hàng và địa điểm kinh doanh. Việc xác định thời gian đi lại phức tạp hơn, dựa trên khoảng cách mà khách hàng phải đi qua nhiều địa điểm khác nhau để tới được nơi mua sắm. Tuy nhiên việc xác 6 định vị trí thông qua các vòng tròn này không tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của khách hàng như: mạng lưới giao thông, hay phân bố dân cư, các ranh giới tự nhiên hoặc nhân tạo, quy định về pháp luật.
Do đó, người bán hàng phải dùng cách tiếp cận đa giác không đều giống như các a míp để tránh các sai lệch theo mô hình vòng tròn đồng tâm gây ra. GIS trong marketing được sử dụng chủ yếu để phân tích vị trí tối ưu. Mô hình xác định vị trí đơn giản nhất là tìm vị trí giả định gần nhất. Mô hình này, theo lý thuyết về lực hấp dẫn bán lẻ của Reily [11], thường tỏ ra hợp lý trong xác định các điểm bán hàng hơn là hiểu thêm về hành vi liên quan đến không gian của người tiêu thụ, mô hình có liên quan đến lý thuyết địa trung tâm của Christaller và quy luật nỗ lực tối thiểu [14].Quan điểm này cho rằng mỗi cá nhân thường đi đến địa điểm gần nhất để mua sắm sản phầm cần thiết, miễn là sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu sử dụng.
Tuy nhiên sự thay đổi về thói quen tiêu dùng mua ở chợ sang cửa hàng hàng tiện lợi, siêu thị có thể khiến khách hàng có xu hướng đi xa hơn gần nhà. Họ không cần giảm thời gian di chuyển và chi phí mà cần thêm nhiều nhu cầu khác. Luận văn thạc sĩ Khoa học Do vậy, nhiều mô hình xác định vị trí tối ưu được phát triển dựa trên những hành vi tiêu dùng này. Dựa trên mô hình trọng lực cơ bản [11], tính hấp dẫn của cửa hàng được xác định bởi mặt tiền bán hàng của nó [15].
Theo lý thuyết này, một cửa hàng có mặt tiền bán hàng rộng và chứa được nhiều sản phẩm sẽ hấp dẫn với người mua hàng. Khách hàng sẽ bị thu hút bởi một cửa hàng có mặt tiền rộng và có biển quảng cáo hấp dẫn, đánh trúng nhu cầu mua hàng của họ. Trong mô hình Huff, khoảng cách được đo bằng thời gian tiếp cận (chi phí đi lại có thể được sử dụng). Ngoài ra, xác suất người khác có thể đi đến một cửa hàng, có nghĩa họ có thể muốn qua lại một vài điểm khác nhau, không giống với mô hình quyết định: họ sẽ chọn tùy thuộc vào mặt tiền bán hàng và khoảng cách theo thời gian đi lại.
Xác suất mà người đó trở thành khách hàng sẽ bằng tỷ số giữa lần sử dụng cửa hàng chia tổng số lần đi lại và mua sắm và sử dụng dịch vụ khác trong cùng cửa hàng. Mô hình Huff được ứng dụng trong kinh doanh như: đánh giá khả năng mua sắm của khách hàng trong các cửa hàng ở cộng hòa Slovak [23]; Đánh giá các khu 7 vực thương mại sử dụng dữ liệu truyền thông xã hội bằng mô hình Huff hiệu chuẩn ở Trung Quốc; phân tích các khu vực thương mại bán lẻ bằng mô hình Huff; ứng dụng Huff để dẫn đường đến các địa điểm làm đẹp Spa ở Nhật Bản. Trên thế giới, việc ứng dụng AHP trong việc ra quyết định được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là các quyết định liên quan đến kinh tế, xã hội và các vấn đề liên quan đến lựa chọn chỉ tiêu kinh doanh [19]. Trên thế giới, ứng dụng GIS trong việc phân tích vùng kinh doanh đã hình thành từ rất lâu.
Năm 2005, Ela Dramowicz và các cộng sự [12] đã ứng dụng thành công mô hình Huff vào việc phân tích thị trường bán lẻ. Vùng kinh doanh sẽ được thể hiện bởi một bề mặt xác suất, thể hiện sự bảo trợ của khách hàng đối với một cửa hàng cụ thể. Trên thế giới các nhà quản lý và các nhà khoa học đã quan tâm rất sớm đến phân tích vị trí tối ưu của chuỗi nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của người dân. Nghiên cứu của Linder G.
Ringo [23] sử dụng GIS, công cụ phân tích kinh doanh để lựa chọn vị trí tối ưu thu hút cho khách hàng tiềm năng và mô hình hóa sự Luận văn thạc sĩ Khoa học phù hợp vị trí để nhượng quyền thương mại cafe ở Minnesota. Sử dụng công cụ GIS và lựa chọn các tiêu chí cụ thể như: khoảng cách, thời gian, thu nhập của vị trí nhà hàng tới các địa điểm giải trí phù hợp. Kết quả nghiên cứu thiết kế đánh giá được các vị trí lựa chọn tốt nhất, vị trí ít phù hợp và không phù hợp để đặt quán cafe trong tương lai. Qua đó cho thấy GIS có thể được sử dụng để mô tả không gian vị trí phù hợp, nơi mà một nhà kinh doanh có thể lựa chọn vị trí quán cafe tốt nhất cho mình trong thời gian tới.
Trong một nghiên cứu của Xiangyi Lin [19], phân tích GIS được sử dụng để lựa chọn vị trí quán bán cafe. Ngoài ra, các mô hình tương tác không gian, mô hình Huff và mô hình ra quyết định, quy trình phân cấp phân tích (AHP) cũng được sử dụng. Kết quả cho thấy vị trí quán cafe được xác định tối ưu nhất qua kết hợp 2 mô hình AHP và Huff, kết quả cũng khẳng định yếu tố giao thông và dân số là tiêu chí quan trọng để đánh giá vị trí tối ưu của quán cafe. Nghiên cứu của nhóm tác giả Bakul Budhiraja [24] sử dụng AHP và GIS để phân tích đa tiêu chí cho thương hiệu bánh Pizza Domino ở Delhi, Ấn Độ.
Mục tiêu 8 của nghiên cứu là lựa chọn vị trí phù hợp để mở thêm các của hàng mới phục vụ nhu cầu ăn bánh Pizza khu vực Delhi. Việc xây dựng cửa hàng mới cần xem xét các tiêu chí: mô hình sử dụng đất, giao thông, sở thích xã hội, thói quen ăn uống của giới trẻ… Kết quả nghiên cứu cho thấy vị trí phù hợp để xây dựng cửa hàng bánh Pizza mới là các khu định cư đô thị đông, các khu có sự kết nối với mạng lưới tàu điện ngầm, khu trung tâm mua sắm và khu khuôn viên tập trung đông dân văn phòng và người trẻ. Đây sẽ là vị trí thuận lợi nhất để lựa chọn. Nghiên cứu của nhóm tác giả Lorri Krebs [17] sử dụng GIS để mô hình hóa mạng phân phối chuỗi cung ứng thực phẩm.
Nghiên cứu minh họa cách thu thập và lưu trữ dữ liệu bởi nhiều người tham gia trong mạng lưới cung ứng thực phẩm. Ở địa phương, thực phẩm có thể được lưu trữ và phân phối trong một hệ thông tin địa lý từ đó cung cấp được thông tin chính xác và hữu ích tới người sử dụng. Từ đó, các nhà cung cấp có thể tận dụng các yêu cầu lưu trữ và phân phối kết hợp để cải thiện hiệu suất chuỗi cung ứng của họ thông qua quy trình chính thức để hiểu và ghi lại yêu cầu của khách hàng, một hệ thống thông tin phù hợp đáp ứng nhu cầu của Luận văn thạc sĩ Khoa học những người tham gia. Thông qua việc bổ sung các nguyên tắc cơ sở dữ liệu không gian, giờ đây việc xử lý dữ liệu có thể tính đến các vấn đề không gian và thời gian liên quan đến phân phối thực phẩm.
GIS sẽ kết hợp máy chủ bản đồ dựa trên WebGIS (GeoServe) và các phần mềm CSDL không gian QGIS, PostGIS và phần mềm trình chiếu để mọi người có thể truy cập tìm kiếm các thông tin về nhà hàng. Nghiên cứu của Dalal Hassan Badawi Fagir [13] sử dụng GIS, AHP để xác định vị trí tốt nhất xây dựng nhà hàng. Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh được sức mạnh của GIS trong lựa chọn vị trí tối ưu nhất xây dựng nhà hàng khi xác định vị trí tiềm năng của nhà hàng. Khuyến nghị của nghiên cứu cần đưa ra nhiều tiêu chí để phân tích tiêu chí nào cần thiết và hiệu quả để lựa chọn từ đó có thể tạo ra kết quả thuyết phục hơn đối với việc lựa chọn vị trí tối ưu.