Chương I: Lý Luận chung về giao dịch quyền chọn tiền tệ ata fives Profit ot Ss; Sy Hình 1.3: Thu nhập của chiến lược Long Put Phía bên phải điểm E, tỷ giá thị trường cao hơn tỷ giá quyền chọn, quyền chọn bán không được giá, người mua quyền chọn bán sẽ không thực hiện quyền chọn và bị lỗ một khoán bằng với phí quyền chọn. Lúc đó đỗ thị biểu diễn thu nhập là một đường thẳng song song với trục hoành và cách trục hoành về phía dưới một khoảng bằng phí quyền chọn. Phía bên trái điểm E, tỷ giá thị trường nhỏ hơn tỷ giá quyền chọn, quyền chọn bán được giá, người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền chọn. Có ba trường hợp Xây ra: -_ Thứ nhất, nếu tỷ giá thị trường thấp hon ty gid quyền chọn một lượng thấp hơn phí quyền chọn, thì thu nhập ròng của người mua quyền chọn bán là một số âm bởi vỉ lợi nhuận thu được do thực hiện quyền chọn không đủ bù đắp phí quyền chọn.
-_ Thứ hai, nếu tỷ giá thị trường thấp hơn tỷ giá quyền chọn , và mức chênh lệch này đúng bằng với phí quyền chọn (tại điểm S2), thì lợi nhuận ròng sẽ bằng không Trang 22 Chương I: Lý Luận chung về giao dịch quyên chọn tiền tệ bởi vì khoản phí quyền chọn phải trả được bù đấp hoàn tàn bằng lợi nhuận thu được từ việc thực hiện quyền chọn. S; chính là tỷ giá hòa vốn của quyền chọn bán. -_ Thứ ba, nêu tỷ giá thị trường thấp hơn tỷ giá quyền chọn, và mức chênh lệch này lớn hơn phí quyền chọn, thì thu nhập ròng của người mua quyền chọn sẽ là một số dương bởi vì lợi nhuận thu được từ việc thực hiện quyền chọn nhiều hơn khoản phí quyền chọn phải chỉ. Đề thị biểu diễn thu nhập của người mua quyền chọn bán là đường đốc ngược lên từ phải qua trái, cắt trục hoành ở điểm $; và tạo với trục hoành một góc 45°, 1.4 Bán quyên chọn ban (Short Put) Nha đầu tư thực hiện chiến lược nảy với kỳ vọng giá của tài sản cơ sở sẽ lên.
Lợi nhuận ròng = Giá thị trường — Giá thực hiện quyền chọn + Phí quyền chọn LNR=S-E+x Hình 1.4: Thu nhd@p cia chién tegc Short Put Trang 23 Chương I: Lý Luận chung về giao dich quyền chọn tiền tệ Phía bên phải điểm E, tỷ giá thị trường lớn hơn tỷ giá thực hiện quyền chọn, quyền chọn bán không được giá, người mua quyền chọn sẽ không thực hiện quyền chọn bán, và người bán quyền chọn thu được trSọn vẹn khoản phí quyền chọn. Đồ thị biểu điễn thu nhập của người bán quyền chọn là đường thẳng song song với trục hoành và cách trục hoành về phía trên một khoảng là phí quyền chọn. Phía bên trái điểm E, ty gid thi trường nhỏ hơn tỷ giá thực hiện quyền chọn, quyền chọn bán được giá, người mua quyền chọn sẽ thực hiện quyền chọn bán. Có ba trường hợp: -_ Thứ nhất, nếu tỷ giá thị trường thấp hơn tỷ giá quyền chọn một lượng thấp hơn phí quyền chọn, thì thu nhập ròng của người bán quyền chọn bán là một số dương bởi vì phí quyền chọn thu được vẫn nhiều hơn khoản lỗ do người mua thực hiện quyền chọn.
-_ Thứ hai, nêu tỷ giá thị trường thấp hơn tỷ giá quyền chọn , và mức chênh lệch này đúng bằng với phí quyền chọn (tại điểm S;), thì lợi nhuận ròng sẽ bằng không bởi vì khoản phí quyền chọn thu được vừa đủ bù đắp lỗ do người mua quyết định thực hiện quyền chọn. §; chính là tỷ giá hòa vốn của quyền chọn bán. -_ Thứ: ba, nêu tỷ giả thị trường thấp hơn tỷ giá quyền chọn, và mức chênh lệch này lớn hơn phí quyền chọn, thì thu nhập rong của người bán quyền chọn sẽ là một số âm bởi vì khoản phí quyền chọn thu được ít hơn khoản lỗ do người mua quyết định thực hiện quyền chọn. Nếu tỷ giá thị trường thấp hơn tỷ giá quyền chọn và thấp mãi thì đề thị biểu điễn thu nhập của người bán quyền chọn là đoạn thắng đốc chéo xuống từ phải qua trái, cắt trục hoành ở điểm S; và tạo với trục hoành một góc 45°.
Trang 24 Chương 1: Lý Luận chung về giao dịch quyền chọn tiền tệ Như vậy đồ thị biểu diễn thu nhập của vị thế Long Put va Short Put đối xứng qua trục hoành. Lợi nhuận của vị thế Long Put là lỗ của vị thế Short Put và ngược lại. Qua phân tích thu nhập của các vị thế quyền chọn ta thấy lỗ của người mua quyền chọn tối đa là mức phí quyền chọn, tuy nhiên lợi nhuận có thể là rất lớn. Còn đối với người bán quyền chọn, thu nhập tối đa là phí quyền chọn, nhưng lỗ có thể là không giới hạn.
Ưu điểm của Hợp đồng quyền chọn so với các công cụ phái sinh khác. Lợi ích nổi bật của các công cụ phái sinh là phòng ngừa hiệu quả các rủi ro về tỷ giá, trong đó Option được coi là công cụ bảo hiểm linh hoạt vì không những nó có thể phòng ngừa được rủi ro về mặt tỷ giá mà còn giúp nhà đầu tư kiếm lợi từ sự biến động thuận lợi của ty giá trên thị trường. Trong hợp đồng Option, người mua không có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng, tức là họ có quyền thực hiện hay không thực hiện hợp đồng và họ chỉ thực hiện hợp đồng khi thấy có lợi cho mình. Khác với Option, đối với các công cụ phái sinh khác thì người nắm giữ hợp đồng bắt buộc phải thực hiện hợp đồng cho đù tỷ giá trên thị trường có biến động bất lợi cho họ đi chăng nữa.
Các giao dịch phái sinh khác chỉ được thực hiện trên thị trường OTC, hoặc trên thị trường tập trung, trong khi đó giao dịch quyền chọn được thực hiện trên cả hai thị trường. Trang 25 CHƯƠNG II UNG DUNG GIAO DICH QUYEN CHON DE BAO HIEM RUI RO TY GIA O VIET NAM HIEN NAY Chương II: Ủng dụng giao dịch quyền chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá tại Việt Nam 2.1 Thị trường phái sinh Việt Nam 2.11 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường các công cụ phái sinh Việt Nam Giao dịch tài chính tiền tệ là lĩnh vực chưa có sự xuất biện của các nhà bảo hiểm bởi tính biến động khôn lường của nó. Các chủ thể tham gia không còn cách nào khác ngoài việc tự bảo hiểm cho mình bằng việc chuyển han hoặc san sẻ một phần rut ro cho thi trường bing các công cụ tài chính phái sinh. Giao dịch ngoại hối giao ngay là sản phẩm ngoại hối xuất hiện đầu tiên, là sản phẩm cơ sở cho các sản phẩm còn lại, có khếi lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Theo số liệu của Ngân hàng Thanh Toán Quốc Tế, doanh số giao dịch giao ngay chiếm khoảng 60% khối lượng giao dịch trên thị trường thế giới, còn tại Việt Nam, giao dịch này chiếm đến hơn 90% trên tổng khối lượng giao dịch. Giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cự tài chính phái sinh đầu tiên ở Việt Nam theo Quyết định số 65/1999/QĐÐ-NHNN7 ngày 25/2/1999. Các giao dịch kỳ hạn được thực hiện trong hợp đồng mua bán USD và VND giữa NHTM với doanh nghiệp xuất nhập khâu hoặc với các NHTM khác được phép của NHNN. Tuy nhiên, hợp đồng kỳ hạn ít được sử dụng, một phần là do thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam chưa phát triển, một phần do những hạn chế vốn có của nó trong việc phòng chống rủi ro tỉ giá và những hạn chế của NHNN.
Vì thế, các giao dịch kỳ hạn chỉ chiếm khoảng 5-7% khối lượng giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Giao dịch hoán đổi cũng xuất hiện khá sớm theo Quyết định số 430/QĐ-NHNN ngày 24/12/1997 và sau nay là Quyết định sé 893/2001/QD-NHNN ngay 17/7/2001 của Thống đốc NHNN. Tuy nhiên đây chỉ là những giao dịch hoán đổi thuận chiều Trang 26 Chương II: Ủng dụng giao dịch quyên chọn để bảo hiểm rủi ro t gũi tại Việt Nam giữa NHNN và NHTM. Nó chỉ được sử dụng trong trường hợp các NHTM dư thừa ngoại tệ và khan hiếm VND.
Các công cụ phái sinh lãi suất và tỷ giá ngoại tệ tiếp tục xuất hiện ở Việt Nam và được các ngân hàng sử dụng do nhu cầu nội tại của các NHTM nhằm theo kịp chuẩn mực hoạt động ngân hàng quốc tế. NHNN đã cho phép các NHTM thực hiện một số nghiệp vụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. Theo Quyết định số 1133/QĐ- NHNN ngày 30/09/2003 về quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cho phép mở rộng danh mục các NHTM và các TCTD, các doanh nghiệp được sử dụng công cụ hoán đổi lãi suất. Hoán đổi lãi suất được thực hiện đối với cả VND và ngoại tệ giữa các ngân hàng với doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng; giữa ngân hàng với những doanh nghiệp vay vốn tại các TCTD khác, kế cả vay vốn nước ngoài; giữa các ngân hàng trong nước với nhau và giữa các NHTM trong nước với các TCTD nước ngoài.
Quyền chọn ngoại tệ, lãi suất và vàng dường như là những công cụ phái sinh được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh lãi suất, tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng thái tăng liên tục. Quy định chính của NHNN cho giao dịch quyền chọn tiền tệ tại Việt Nam: Quyết định số 1452/2004/QĐ- NHNN ngày 10/11/2004 của Thống đốc NHNN đối với giao dịch hối đoái của các TCTD được phép hoạt động ngoại hối. Trong năm 2005, NHNN Việt Nam cho phép thực hiện thí điểm quyền chọn ngoại tệ - VND tại các ngân hang ACB, Techcombank, VCB, Exinbank, VIB, BIDV, MB, Agribank. Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng đầu tiên được phép thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất.
Các giao dịch quyền chọn lãi suất được Trang 27 Chương II: Ủng dụng giao dịch quyên chọn để báo hiểm rủi ro tỷ giá tại Việt Nam: phép thực hiện đối với những khoản cho vay và di vay trung hạn (dưới 5 năm) bằng USD hoặc bằng EURO và chí được thực hiện đối với các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, các NHTM hoạt động ở Việt Nam được NHNN cho phép vả các ngân hàng ở nước ngoài. Sau BIDV là hàng loạt các NHTM khác, bao gồm cả NHTM cô phần cũng được cho phép thực hiện nghiệp vụ này. Bên cạnh quyền chọn lãi suất, quyền chọn ngoại tệ cũng được nhiều ngân hàng cung cấp, điến hình là BIDV, Eximbank, ACB, Techeombank, Agribank, Citibank, Vietcombank, và ngân hàng Hongkong Bank chỉ nhánh thành phố HCM.