CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu CNTT trong dạy học 1. Ở nước ngoài Việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã được các nước trên thế giới áp dụng không lâu kể từ khi CNTT ra đời. Cho đến ngày nay, CNTT đã nhanh chóng trở thành một phương tiện dạy học dạy học tích cực với nhiều thành tựu đáng kể. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO dự báo: CNTT sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và toàn diện, có hệ thống và mang tính hội nhập cao vào đầu thế kỉ XXI.
Sự bùng nổ và phát triển về công nghệ giáo dục sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người (“dạy học cho mọi người và mỗi người”, “sự gia tăng tri thức và nhu cầu chia sẻ”, “tập trung hóa kiến thức và dịch chuyển năng lực”, “các yếu tố bền vững, truyền thống và sự hội nhập trong không gian giáo dục”…). Quá trình này dẫn đến sự cần thiết phải nhìn nhận lại giá trị và ý nghĩa của việc dạy học (giáo dục nói chung) dưới góc độ mối quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về bản chất của quá trình thực thi các chương trình giáo dục. Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn quốc về ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường trung học ở Hà Lan, GS. Wilfried Admiraal (Đại học Leiden, Hà Lan) chỉ ra mười yếu tố cần có để triển khai hiệu quả CNTT vào môi trường giáo dục bậc THPT.
Nghiên cứu này có thể sẽ là một nguồn tham khảo hữu ích trong bối cảnh GV và HS đều đang phải học cách để thay đổi kỹ năng dạy và học của chính mình nhất là trong tình hình của đại dịch Covid- 19. [24] 6 Kunskapsskolan là một mô hình ‘trường tri thức’ của Thụy Điển. Tại đây, các GV chia sẻ và cùng nhau xây dựng toàn bộ HĐ giảng dạy, học tập, đánh giá và tài liệu. Trong một HĐ giảng dạy và thực hành bất kỳ chứa đựng sự nỗ lực của rất nhiều thầy cô.
[24] Từ lý thuyết đến TN, tất cả đều cho thấy rằng dạy học ứng dụng CNTT sẽ giúp người học tích cực hơn trong việc trau dồi kiến thức – thông qua quá trình tích hợp thông tin và trải nghiệm mới vào nền tảng kiến thức sẵn có. Trước diễn biến của đại dịch Covid-19 như hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong dạy học càng phát huy vai trò của nó. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, GV đến trường hoặc ở nhà để dạy, còn HS tham dự các lớp học, thực hiện dự án và hoàn thành bài tập tại nhà. Nhưng không phải HS, sinh viên nào cũng có khả năng truy cập công nghệ để tham dự lớp học, cũng như không phải ai trong các em cũng có một môi trường học tập an toàn tại nhà.
CNTT được áp dụng nhiều trong dạy học từ xa, học trực tuyến. Nhiều phần mềm dạy học trực tuyến đã ra đời đáp ứng yêu cầu dạy học từ xa như phần mềm Hangout meet, Zoom, Trans,. Luận án tiến sĩ của Mohammed I.Isleem (2003), đại học Ohio( Hoa kỳ), đã nghiên cứu sâu về mối tương quan của các yếu tố cơ bản với mức độ ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học của GV ngành công nghệ giáo dục. Luận án đã nghiên cứu và chỉ ra mối tương quan giữa mức độ ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học với các yếu tố được lựa chọn.
Đồng thời tác giả Mohammed đã xây dựng bộ công cụ đo lường mức độ ứng dụng CNTT gồm 63 biến quan sát.[6] Trong tác phẩm “Teacher ICT skill”, một nghiên cứu của Sở giáo dục Tây Úc (Western Australia) đã tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ kiến thức, kỹ năng của GV trên địa bàn Western Australia về lĩnh vực ứng dụng CNTT và truyền thông phục vụ dạy học. Tác giả đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến năng lực ứng dụng CNTT của GV cùng các yếu tố ảnh hưởng 7 đến năng lực đó như: nguồn lực của nhà trường về CNTT, động lực của GV, chính sách và sự quan tâm của lãnh đạo,… [19] Cùng với những nghiên cứu về mức độ ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học, tác giả Nasera Jamil Al-Zaidiyeen, Leong Lai Mei và Fong Soon Fook (2010 đã khảo sát trên 650 GV ở Jordan và khẳng định có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của GV đối với việc ứng dụng CNTT và mức độ ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học của họ.[19] Nghiên cứu về ảnh hưởng của CNTT trong HĐ dạy và học, tác giả Schacter (1999) đã chứng minh tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bằng việc phân tích hơn 700 nghiên cứu về tác động của công nghệ giáo dục đến thành quả học tập của HS. Từ đó nghiên cứu đã kết luận rằng HS được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều có tác động tích cực đối với thành quả học tập. Hiện nay, trên thế giới đã xuất hiện một xu hướng học tập mới nữa đó là học tập di động (Mobile Learning, M-Learning) dựa trên nền tảng phát triển của công nghệ và thiết bị di động (mobile devices).
Như vậy, cơ sở để phân loại thành các hình thức học tập như trên mới chỉ căn cứ vào khía cạnh kỹ thuật. [23] Theo tài liệu “ CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học” nếu nhìn nhận CNTT là một phương tiện dạy học mới đặt trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố người dạy và người học thì hiện nay trên thế giới đang có 3 hướng sử dụng phương tiện này: [22] Hướng 1: CNTT là phương tiện của người GV. Trong đó người GV sử dụng CNTT phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và thể hiện bài giảng. Hay nói theo cách khác đó là các “bài giảng điện tử” mà người GV soạn để lên lớp.
Phần mềm được sử dụng phổ biến nhất là Microsoft PowerPoint (gọi là “bài giảng điện tử” hay bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT); Hướng 2: CNTT là phương tiện dạy và học của cả thày và trò. Trong đó, người GV sử dụng CNTT để thiết kế bài dạy và các tài liệu hỗ trợ học 8 tập, đồng thời, HS sử dụng CNTT là phương tiện để “trả bài” cho GV (gọi là bài dạy tích hợp CNTT); Hướng 3: Về hình thức, CNTT dường như chỉ là phương tiện của trò, là “môi trường” học tập mới, môi trường học tập ảo (virtual learning environment). Trong đó, CNTT thay thế cho hình thức dạy học trực tiếp mặt giáp mặt giữa GV và HS. CNTT trở thành môi trường chứa đựng thông tin và tình huống nhận thức mà người học trở thành chủ thể HĐ trong môi trường đó.
Có thể biểu diễn ba hướng ứng dụng CNTT trong dạy học qua sơ đồ 1. như sau [22]: Hình 1. Ba hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy việc nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong HĐDH được đặc biệt quan tâm. Ở trong nước Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học ở nước ta đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu các công trình: 9 Bàn về ứng dụng của CNTT trong dạy học tích cực, tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn đã giới thiệu cách khai thác, sử dụng các tiện ích của CNTT trong dạy học như là một PPDH tích cực qua tác phẩm “ Ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực” (2008).
Bằng cách khai thác thông tin, soạn giáo án có ứng dụng CNTT, sử dụng máy tính để tổ chức các HĐ dạy theo hướng phát huy tính tích cực của người học, cuốn sách đã mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quan về cách sử dụng hiệu quả giáo án có ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học tích cực. Đây là công trình tương đối hoàn chỉnh về ứng dụng CNTT trong dạy học.[8] Trong tác phẩm “ CNTT trong dạy học tích cực” (2010) các tác giả Trần Nữ Mai Thi, Trần Thị Thái Hà đã khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT không chỉ đơn thuần ở bản thân công cụ mà cả ở cách thức GV và người học sử dụng các công cụ này để hỗ trợ việc dạy và học như thế nào. Cuốn sách đã giới thiệu một cách ngắn gọn về các công cụ và cách thiết kế hướng dẫn, cho thấy tác dụng của thiết kế hướng dẫn thúc đẩy công nghệ đó. Cuốn sách được sử dụng làm tài liệu tự học về CNTT cho dạy học tích cực và sử dụng cho các khóa học tập huấn cho GV về ứng dụng CNTT trong dạy học.
[20] Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả Đào Thái Lai với tên:“ Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” (2006), đây là một trong số các công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện về ứng dụng CNTT trong dạy học. Đề tài đề cập tới những định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học ở phổ thông và các yếu tố CNTT cần ứng dụng trong dạy học ở phổ thông. Đồng thời, tác giả đưa ra những phương pháp sử dụng cơ bản các yếu tố này trong dạy học và những định hướng cơ bản trong việc sử dụng phần mềm dạy học trong dạy học các bộ môn. Ngoài ra, đề tài còn trình bày những hướng dẫn sử dụng phần mềm dạy học, nghiên cứu việc sử dụng Internet trong dạy học.
[12] 10 Ngoài ra, Việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổi mới PPDH ở trường phổ thông đã được nhiều nhà khoa học công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, như bài viết “ Ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập hóa vô cơ” của tác giả Tú Sỹ Chương. Bài viết đã đưa ra những kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong đổi mới giảng dạy bằng cách kết hợp giữa PPDH hiện đại với truyền thống. [2] Trong bài báo “ Ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới PPDH” của tác giả Đặng Thị Thu Thủy và Trần Đình Châu đã đề xuất một số vấn đề liên quan đến ứng dụng CNTT đổi mới PPDH. [21] Ngoài ra, nói tới việc khai thác ứng dụng của CNTT nhằm tạo ra môi trường tương tác trong dạy học môn Toán, tác giả Đỗ Thị Hồng Minh cùng cuốn sách “Khai thác ứng dụng CNTT trong dạy học tương tác môn Toán Hình học lớp 11 THPT” mang đến cho bạn đọc cái nhìn tổng quan về PPDH tương tác cũng như một số ứng dụng của CNTT trong dạy học Hình học lớp 11 ở trường THPT.