phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ Ở VIỆT NAM Trong chƣơng này, tác giả trình bày và làm rõ các khái niệm, thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong Luận văn nhƣ: khái niệm “tổng thuật”, “công trình NCKH”, “CNTT”, thuật ngữ “ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ”. Đồng thời, trình bày tổng quan các công trình NCKH về ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ ở Việt 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam theo số lƣợng, loại hình, thời gian và tác giả thực hiện, về nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. CHƢƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ Ở VIỆT NAM Ở chƣơng này, tác giả tổng hợp và phân tích kết quả nghiên cứu của 50 công trình NCKH (đã đƣợc chọn lọc) về ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ nhƣ: Những nghiên cứu về thuật ngữ; về khả năng ứng dụng; tầm quan trọng; những nội dung của ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ; về các giải pháp công nghệ và điều kiện ứng dụng. CHƢƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ Ở VIỆT NAM Trên cơ sở những nhận xét, đánh giá của chƣơng 2, tác giả bàn luận về những vấn đề đã đƣợc nghiên cứu nhƣng chƣa thống nhất hoặc còn nhiều tranh cãi.
Đồng thời đề xuất một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ ở Việt Nam. Đóng góp của đề tài Đây là đề tài đầu tiên tổng thuật, đánh giá các công trình NCKH về ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp cho các nhà khoa học và những ngƣời quan tâm đến vấn đề này có cái nhìn tổng quan, tiết kiệm thời gian, công sức thu thập tài liệu, đồng thời có căn cứ để tiếp tục nghiên cứu bổ sung, lấp đầy những “khoảng trống” trong nghiên cứu. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các cơ quan quản lý nhà nƣớc về lƣu trữ, các cơ quan lƣu trữ chuyên trách nói riêng và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong cả nƣớc nói chung có thể tham khảo để xây dựng kế hoạch, triển khai vận dụng cho phù hợp, tận dụng tối đa thành tựu của khoa học công nghệ, nhằm nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ, hƣớng tới mục tiêu hiện đại hóa công tác này ở nƣớc ta.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ Ở VIỆT NAM 1. Các khái niệm và thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong luận văn Để tiện theo dõi các nội dung của luận văn, tác giả làm rõ một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan dƣới đây: 1. Khái niệm “tổng thuật” Tổng thuật là một khái niệm không mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, qua tìm hiểu các Từ điển tiếng Việt uy tín, thì khái niệm này chƣa có nhiều định nghĩa.
Theo cách hiểu của tác giả, “tổng” có nghĩa là tổng hợp lại các nội dung, các vấn đề nhất định, “thuật” nghĩa là tƣờng thuật lại, trình bày lại các nội dung, các vấn đề theo trình tự hoặc theo một logic nhất định. Trong quá trình “tổng thuật” cần đảm bảo tính hệ thống hoặc theo nguyên tắc nhất quán. Thuật ngữ “công trình nghiên cứu khoa học” Theo tác giả Vũ Cao Đàm:“NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”[13, tr. NCKH có thể đƣợc thực hiện dƣới nhiều phƣơng pháp và cách thức khác nhau nhằm thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu nào đó.
Nhƣ vậy, công trình NCKH đƣợc hiểu là một hình thức thực hiện hoạt động NCKH do một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời thực hiện, dƣới các dạng nhƣ: đề tài NCKH các cấp, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo hội nghị NCKH, bài viết tạp chí… 1. Thuật ngữ “công nghệ thông tin” và “ứng dụng công nghệ thông tin” Ở Việt Nam, thuật ngữ CNTT lần đầu đƣợc định nghĩa trong Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ về phát triển CNTT ở nƣớc ta trong những năm 90. Theo đó, “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [6]. Theo Từ điển CNTT - Điện tử - Viễn thông Anh Việt (2004): “CNTT (Information technology) là: Sự thu nhận, xử lý, lưu giữ và phổ biến thông tin tiếng nói, hình ảnh, văn bản và số nhờ tổ hợp dựa trên vi điện tử của tin học, viễn thông và kỹ thuật video”[21, tr.
CNTT là sự quy tụ của các kỹ thuật tin học, viễn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông và video, tin học cung cấp khả năng xử lý và lƣu giữ thông tin, viễn thông cung cấp phƣơng tiện để truyền nó và kỹ thuật video cung cấp thiết bị hiển thị hình ảnh chất lƣợng cao. Cũng theo Từ điển CNTT - Điện tử - Viễn thông Anh Việt, ứng dụng (application) theo nghĩa danh từ: “Là chương trình máy tính nhằm giúp cho con người thực hiện một loại công việc nào đó. Do đó, chương trình ứng dụng khác với hệ điều hành (chạy máy tính), chương trình tiện ích (thực hiện bảo trì và những công việc đa năng khác), và ngôn ngữ (để viết chương trình máy tính)” [21, tr. Ví dụ những ứng dụng khoa học, chƣơng trình ứng dụng… Ứng dụng theo nghĩa động từ đƣợc hiểu là việc đem lý thuyết dùng vào thực tiễn [29].
Ví dụ: ứng dụng kỹ thuật mới vào công tác chọn giống. Chúng ta có thể hiểu “ứng dụng CNTT” theo nghĩa động từ đó là: việc triển khai, thực hiện các phƣơng pháp khoa học, các phƣơng tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông, nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngƣời và xã hội. Thuật ngữ “công tác lưu trữ” và “ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ” Theo giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lƣu trữ (năm 1990): “Công tác lưu trữ là một ngành hoạt động của nhà nước (xã hội) bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, pháp chế và thực tiễn có liên quan đến việc bảo quản và tổ chức sử dụng TLLT” [9, tr. Từ nhận định trên, chúng ta thấy rằng công tác lƣu trữ ra đời là do đòi hỏi khách quan đối với việc bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu.
Ngày nay, trƣớc những yêu cầu mới của công tác quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội, công tác lƣu trữ cần đƣợc xem xét từ những yêu cầu bảo đảm thông tin cho hoạt động quản lý, bởi thông tin trong TLLT là loại thông tin có tính dự báo cao, dạng thông tin cấp một, đã đƣợc thực tiễn kiểm nghiệm, có độ tin cậy cao do nguồn gốc hình thành, do đặc trƣng pháp lý, tính chất làm bằng chứng lịch sử của TLLT quy định. Trong đề tài luận văn này, công tác lƣu trữ đƣợc dùng gồm 02 nội dung: quản lý công tác lƣu trữ và các nghiệp vụ lƣu trữ. Quản lý công tác lƣu trữ bao gồm: Tổ chức bộ máy; xây dựng và ban hành văn bản chỉ đạo và hƣớng dẫn về công tác lƣu trữ; quản lý nhân sự làm lƣu trữ; tổ chức kho tàng và trang thiết bị; kiểm tra, đánh giá công tác lƣu trữ. Nghiệp vụ lƣu trữ bao gồm các nội dung chính: Tổ chức 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thu thập, bổ sung TLLT; tổ chức khoa học TLLT; tổ chức bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng TLLT.
Nhƣ vậy, từ các khái niệm nêu trên có thể định nghĩa: Ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ là việc triển khai, thực hiện các phƣơng pháp khoa học, các phƣơng tiện và kỹ thuật máy tính và viễn thông hiện đại trong hoạt động quản lý và các hoạt động nghiệp vụ lƣu trữ nhằm đổi mới, hiện đại hóa công tác này. Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lƣu trữ ở Việt Nam Trong phần phạm vi nghiên cứu của đề tài (trang 12), tác giả đã giới thiệu một số cơ sở giáo dục, đào tạo về lƣu trữ trong cả nƣớc; cơ quan quản lý về lƣu trữ và một số Tạp chí chuyên ngành mà tác giả đã thực hiện khảo sát và thống kê các công trình có liên quan đến đề tài. Ở phần này, tác giả sẽ tổng quan các công trình NCKH về ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ ở Việt Nam theo các tiêu chí khác nhau nhƣ: Số lƣợng, loại hình; thời gian và tác giả thực hiện; nội dung; giải pháp công nghệ; phƣơng pháp nghiên cứu. Về số lượng và loại hình 1.
Số lượng các công trình nghiên cứu Qua quá trình nghiên cứu những tài liệu đã thu thập, tác giả nhận thấy vấn đề ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ đã nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm của các tác giả không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn nên tác giả chỉ giới hạn tìm hiểu những công trình ở Việt Nam. Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và bám sát phạm vi nghiên cứu của đề tài; song những kết quả mà tác giả đã thống kê chƣa hoàn toàn đầy đủ. Trong khoảng thời gian từ năm 1986-2016 tác giả thống kê đƣợc 305 công trình NCKH về ứng dụng CNTT trong công tác lƣu trữ (Theo phụ lục).
Các công trình nghiên cứu đƣợc thể hiện dƣới nhiều loại hình đa dạng khác nhau bao gồm: sách tham khảo, đề tài NCKH các cấp, luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo NCKH, bài báo trên các Tạp chí chuyên ngành, bài báo cáo tại Hội thảo khoa học.