MỞ ĐẦU Đột quỵ là một bệnh lý tim mạch và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là một hội chứng lâm sàng bao gồm các dấu hiệu rối loạn chức năng của não (khu trú hoặc toàn thể) khi khởi phát đột ngột, kéo dài hơn 24 giờ (hoặc dẫn đến tử vong) và có nguồn gốc mạch máu 1. Đột quỵ là nguyên nhân tử vong thứ hai và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật với tỉ lệ ngày càng phổ biến trên toàn thế giới2. Những người sống sót sau đột quỵ thường để lại di chứng lâu dài bao gồm suy giảm khả năng vận động, nhận thức, ngôn ngữ, giao tiếp cũng như các vấn đề về cảm xúc, khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày và cách ly xã hội 3,4. Mất ngủ chính là một trong những biến chứng của những người sống sót sau đột quỵ.
Tỉ lệ mất ngủ và các triệu chứng mất ngủ được ước tính là cao hơn ở những người sống sót sau đột quỵ 5. Tỉ lệ số người sống sót sau đột quỵ trải qua các triệu chứng mất ngủ hoặc xuất hiện triệu chứng mất ngủ là 38,2% 6. Một số nghiên cứu đã cho thấy tác động của rối loạn giấc ngủ bao gồm mất ngủ như một yếu tố nguy cơ của đột quỵ và mất ngủ có ảnh hưởng trong việc phục hồi sau đột quỵ ngắn hạn và dài hạn 7. Mất ngủ sau đột quỵ thường do các yếu tố môi trường hoặc các bệnh đi kèm như trầm cảm.
Ngoài ra, một số thuốc được sử dụng để điều trị đột quỵ, hoặc điều trị các bệnh kèm cũng có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ. Ví dụ: người bệnh đột quỵ bị tăng huyết áp dùng các loại thuốc như thuốc chẹn thụ thể beta, thuốc lợi tiểu, có thể làm gián đoạn giấc ngủ, thức dậy vào sáng sớm. Đối với người bệnh đột quỵ có các triệu chứng tâm thần, có thể sử dụng các thuốc nhóm ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ 8. Tỉ lệ hiện mắc đột quỵ tại Việt Nam vào năm 2016 là 15,5% 9.
Ngoài ra, tại Việt Nam tuổi thọ trung bình tăng nhanh từ 6,1 tuổi lên 8,4 tuổi đối với nam và từ 7,3 tuổi lên 8,9 tuổi ở nữ trong hai thập kỷ 10, cho thấy số ca đột quỵ sẽ gia tăng đáng kể khi dân số già đi. Dự đoán số ca mắc đột quỵ lần đầu tiên ở Việt Nam sẽ tăng gấp 1,8 lần; từ 83.546 ca vào năm 2010 lên 154.777 ca vào năm 2030 11, kéo theo đó là tỉ lệ biến chứng mất ngủ sau đột quỵ sẽ gia tăng. 2 Trong y học cổ truyền, mất ngủ còn được gọi là Thất miên, Bất mị, Mục bất minh, có liên quan đến các tạng Tâm, Tỳ, Can, Thận và âm huyết không đủ vì dương thịnh, âm suy, âm dương không giao nhau 12. Trong tác phẩm Hải thượng y tông tâm lĩnh có viết: ”Tâm là nơi chứa thần, thống nhiếp huyết mạch, Can là nơi chứa phách, chứa huyết, Tỳ là nơi chứa ý và sinh ra huyết.
Phàm chứng mất ngủ là do âm hư huyết kém nên thần, hồn, ý đều bị thương tổn” 13. Hiện nay, các phương pháp dùng thuốc y học hiện đại và liệu pháp tâm lý cho thấy đã có hiệu quả trong điều trị chứng mất ngủ, nhưng việc sử dụng chúng bị hạn chế do lo ngại về tác dụng phụ và tính khả thi trong các điều kiện thực hành lâm sàng hằng ngày 14,15. Đối mặt với những hạn chế của các phương pháp điều trị hiện có, thuốc bổ sung và thay thế đã được tìm kiếm để điều trị chứng mất ngủ. Một cuộc khảo sát quốc gia ở Hoa Kỳ cho thấy 4,5% người trưởng thành cho biết đã sử dụng một số hình thức thuốc bổ sung và thay thế để điều trị chứng mất ngủ trong năm qua 16.
Một nghiên cứu dựa trên dân số ở Úc cho thấy khoảng 20% người trưởng thành đã sử dụng ít nhất một hình thức điều trị y học cổ truyền trong năm qua 17. Một nghiên cứu ở Đài Loan cũng cho thấy 28% người thụ hưởng hợp lệ từ bảo hiểm y tế quốc gia đã nộp đơn yêu cầu điều trị bệnh y học cổ truyền trong năm 2002 18. Trước tình hình già hóa dân số và tỉ lệ ước tính số ca mắc đột quỵ lần đầu tiên ngày càng tăng tại Việt Nam, nhằm cung cấp thêm bằng chứng kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại để hỗ trợ quản lý điều trị mất ngủ trên người bệnh sau đột quỵ, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Tại các cơ sở y tế có điều trị y học cổ truyền trên Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ mất ngủ trên người bệnh sau đột quỵ là bao nhiêu ? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ kém trên người bệnh sau đột quỵ ?. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát.
Xác định tỉ lệ mất ngủ và khảo sát những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ kém trên người bệnh sau đột quỵ (giai đoạn phục hồi sớm, giai đoạn phục hồi muộn, giai đoạn mạn tính) tại các cơ sở y tế có điều trị y học cổ truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu cụ thể. Xác định tỉ lệ mất ngủ trên người bệnh sau đột quỵ (giai đoạn phục hồi sớm, giai đoạn phục hồi muộn, giai đoạn mạn tính) tại các cơ sở y tế có điều trị y học cổ truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ kém trên người bệnh sau đột quỵ (giai đoạn phục hồi sớm, giai đoạn phục hồi muộn, giai đoạn mạn tính) tại các cơ sở y tế có điều trị y học cổ truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại cương về giấc ngủ 1. Định nghĩa Giấc ngủ được định nghĩa dựa trên hành vi của một người và những thay đổi sinh lý liên quan, xảy ra đối với nhịp điện học của não bộ trong khi ngủ. Thời điểm bắt đầu ngủ được đặc trưng bởi những thay đổi dần về nhiều đặc điểm hành vi và sinh lý. Các tiêu chí về hành vi bao gồm thiếu khả năng vận động hoặc cử động nhẹ, cử động mắt chậm, tư thế ngủ đặc trưng cụ thể, giảm phản ứng với kích thích bên ngoài, tăng thời gian phản ứng, ngưỡng kích thích tăng cao, suy giảm chức năng nhận thức và trạng thái vô thức có thể đảo ngược.
Các tiêu chí sinh lý dựa trên kết quả của điện não đồ (EEG), điện quang mắt (EOG) và điện cơ đồ (EMG) 19. Chu kỳ của giấc ngủ Dựa trên ba phép đo sinh lý (EEG, EOG và EMG), giấc ngủ được chia thành hai trạng thái với các chức năng và kiểm soát độc lập: giấc ngủ NREM và giấc ngủ REM luân phiên theo chu kỳ (tổng cộng 4 chu kỳ đến 6 chu kỳ được ghi nhận trong khi ngủ ở người lớn), mỗi chu kỳ kéo dài trung bình từ 90 phút đến 110 phút. Ở người trưởng thành, một phần ba giấc ngủ đầu tiên bị chi phối bởi giấc ngủ sóng chậm và một phần ba cuối cùng bị chi phối bởi giấc ngủ REM 19 Hình 1.1: Các giai đoạn của giấc ngủ. Lavigne và cộng sự, 2016”20.
5 Giấc ngủ NREM chiếm 75% đến 80% thời gian ngủ ở người trưởng thành. Giấc ngủ REM chiếm 20% đến 25% tổng thời gian ngủ. Các biểu hiện điện não đồ trong giấc ngủ REM được đặc trưng bởi nhịp điệu nhanh và sóng theta, một số có thể có hình răng cưa. Dấu hiệu của giấc ngủ REM là sự hiện diện của chuyển động mắt nhanh theo mọi hướng kèm theo các thay đổi về huyết áp, nhịp tim, hô hấp không đều và cử động của lưỡi 19.
Sự thay đổi của điện não đồ và trạng thái giấc ngủ từ bào thai, trẻ đủ tháng, thời thơ ấu, thiếu niên đến tuổi trưởng thành diễn ra theo một cách có trật tự tùy thuộc vào sự trưởng thành của hệ thần kinh trung ương. Nhu cầu về giấc ngủ thay đổi đáng kể từ giai đoạn sơ sinh đến tuổi già. Ở trẻ sơ sinh, lượng thời gian ngủ ở trạng thái REM là khoảng 50% nhưng đến khoảng 06 tuổi, thời gian ngủ ở trạng thái REM đã giảm xuống giống như ở trạng thái bình thường của người lớn là 25%. Đến 03 tháng tuổi, mô hình chu kỳ NREM và REM trong giấc ngủ của người lớn được thiết lập.
Người lớn có giấc ngủ trung bình từ 7,5 giờ đến 8 giờ mỗi đêm 19. Chức năng của giấc ngủ Chức năng sinh học của giấc ngủ vẫn còn chưa được giải thích rõ, mặc dù người ta biết rằng giấc ngủ là điều cần thiết và mất ngủ, do lối sống hoặc rối loạn giấc ngủ (ví dụ: ngưng thở khi ngủ, mất ngủ, tâm lý, tâm thần, liên quan đến thuốc hoặc các bệnh thần kinh) sẽ gây ra những hậu quả ngắn hạn và dài hạn. Hậu quả ngắn hạn dẫn đến suy giảm khả năng chú ý và tập trung, giảm chất lượng cuộc sống, làm giảm năng suất và tai nạn tại nơi làm việc, nhà riêng hoặc khi tham gia giao thông. Hậu quả lâu dài của việc mất ngủ bao gồm gia tăng tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh mạch vành, suy tim, huyết áp cao, béo phì, đái tháo đường type 2, đột quỵ, suy giảm trí nhớ và trầm cảm 19.
Chứng mất ngủ Có bốn than phiền chính về giấc ngủ, bao gồm: buồn ngủ quá mức vào ban ngày, mất ngủ, cử động hoặc hành vi bất thường trong khi ngủ và không thể ngủ vào thời gian mong muốn. Bước quan trọng nhất để đánh giá một người bệnh có than phiền. 6 về giấc ngủ là thu thập tiền căn chi tiết bao gồm tiền căn gia đình và tiền căn bản thân trước đó, các rối loạn về tâm thần, thần kinh, uống rượu bia và lạm dụng chất kích thích khác 19. Sinh lý bệnh chứng mất ngủ Mất ngủ được gây ra bởi sự tăng thức tỉnh trong toàn bộ ngày và được biểu hiện vào ban đêm là triệu chứng khó vào giấc hay duy trì giấc ngủ.
Sự tăng thức tỉnh này có thể được giải thích bằng bốn mô hình: sinh lý, nhận thức, hành vi và thần kinh. Mô hình sinh lý của sự thức tỉnh được đánh giá qua việc đo lường các chuyển hóa của cơ thể, sự thay đổi các nội tiết tố, thay đổi nhịp tim và hình ảnh học hệ thần kinh. Những người bệnh bị mất ngủ có biểu hiện tốc độ chuyển hóa, trao đổi chất cao hơn so với nhóm chứng.