CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về rối loạn lo âu 1. Định nghĩa Lo âu là một trạng thái cảm xúc đối với những mối đe dọa trong tương lai được đặc trưng bởi cảm giác e ngại, lo lắng, thiếu kiểm soát đối với các phản ứng xúc cảm của bản thân và cũng thường đi kèm với những cảm nhận như hổ thẹn, tội lỗi, hưng phấn, tức giận, hay buồn chán. Bên cạnh đó, lo âu cũng thường xuất hiện cùng với sợ hãi và được biểu hiện ra với các triệu chứng cơ thể như căng cơ, khô miệng, tim đập nhanh, run rẩy, chóng mặt, và khó thở [57].
Khi trạng thái lo âu kéo dài và cản trở đối với các chức năng sống khác của cá nhân thì nó có thể trở thành rối loạn lo âu. Phân loại Các dạng rối loạn lo âu bao gồm: rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, rối loạn căng thẳng sau sang chấn, ám ảnh sợ xã hội, rối loạn lo âu khi xa cách. Nguyên nhân Nguyên nhân chính xác của rối loạn lo âu bao gồm nhiều yếu tố khác nhau: do thuốc, bệnh thực thể, căng thẳng, di truyền, tình trạng lo lắng kéo dài, các rối loạn tâm thần kết hợp. Nguyên nhân chủ yếu liên quan tới sang chấn tâm lý kết hợp với yếu tố cá nhân có xu hướng lo âu.
Triệu chứng Theo hướng dẫn Chẩn đoán và Thống kê về các rối loạn tâm thần (DSM- V) [29], mặc dù có nhiều loại rối loạn lo âu khác nhau tùy theo đối tượng hay tình huống của sự sợ hãi, lo âu, và hành vi né tránh cùng với những suy nghĩ có liên quan, các rối loạn này thường được đặc trưng bởi sự sợ hãi quá mức và những rối loạn trong hành vi có liên quan tới sự lo âu. Đại cương về trầm cảm 1. Định nghĩa Trầm cảm là trạng thái được đặc trưng bởi sự buồn chán, thiếu năng lượng, cảm giác tội lỗi và mất giá trị bản thân, tuyệt vọng về tương lai. Trong tâm lý học lâm sàng, khái niệm trầm cảm thường được sử dụng chủ yếu trong các rối loạn tâm thần, trong đó có rối loạn trầm cảm nghiêm trọng và rối loạn lưỡng cực [57].
Phân loại Trầm cảm được phân loại trong Chẩn đoán và thống kê về các rối loạn tâm thần, ấn bản thứ năm (DSM-5) [17] bởi các triệu chứng cụ thể: Rối loạn trầm cảm nghiêm trọng Rối loạn trầm cảm dai dẳng (loạn tâm thần) Rối loạn trầm cảm biệt định và không biệt định Các loại khác được phân loại theo bệnh nguyên: Rối loạn trầm cảm tiền kinh nguyệt Rối loạn trầm cảm do tình trạng bệnh lý khác Rối loạn trầm cảm do chất gây nghiện hoặc thuốc 1. Nguyên nhân Nguyên nhân chính xác gây các rối loạn trầm cảm là không rõ ràng, nhưng có thể liên quan đến yếu tố di truyền, thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, chức năng của hormon thần kinh bị thay đổi, các yếu tố tâm lý xã hội và môi trường. Những căng thẳng nghiêm trọng trong cuộc sống, đặc biệt là sự chia rẽ và mất mát thường xảy ra trước khi có triệu chứng trầm cảm; tuy nhiên các sự kiện như vậy thường không gây trầm cảm kéo dài, trầm trọng trừ những người có xu hướng rối loạn tâm thần. Yếu tố nguy cơ Phụ nữ có nguy cơ cao hơn, nhưng không có lý thuyết giải thích tại sao.
Các yếu tố nguy cơ có thể bao gồm: Phơi nhiễm nhiều hơn hoặc đáp ứng mạnh với căng thẳng hàng ngày. Nồng độ monoamine oxidase cao hơn (enzym có vai trò làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh được coi là quan trọng đối với khí sắc). Rối loạn chức năng tuyến giáp. Sự thay đổi nội tiết xảy ra với kinh nguyệt và mãn kinh.
Trầm cảm khởi phát trong lúc mang thai hoặc trong vòng 4 tuần sau khi sinh; những thay đổi nội tiết có liên quan đến nguy cơ trầm cảm sau sinh. Thực tế, rất khó nhận biết đâu là trầm cảm thật hay đâu là rối loạn cảm xúc bình thường sau sinh. Vì những dấu hiệu của trầm cảm sau sinh lại trùng lấp với những rối loạn khác như mất ngủ, mệt mỏi, ăn uống kém, lo lắng… bất kỳ bà mẹ nào mới sinh con đều có thể trải qua những cảm xúc này. Do đó, việc tiếp cận chẩn đoán có vai trò quan trọng trong nhận biết các yếu tố nguy cơ của phụ nữ sau sinh.
Một số yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến trầm cảm sau sinh theo Lancaster [39] đó là: Bị trầm cảm trong thời gian mang thai Lo lắng, sợ hãi trong suốt thời gian mang thai Có biến cố không hay xảy ra trong thời gian mang thai hay mới sinh con Sang chấn sản khoa Sinh non hay trẻ phải chăm sóc đặc biệt Tiền sử trầm cảm sau sinh Vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ. Triệu chứng Trầm cảm gây ra các rối loạn nhận thức, tâm thần vận động và các dạng rối loạn chức năng khác như tập trung kém, mệt mỏi, mất ham muốn tình dục, mất hứng thú hoặc thích thú trong hầu hết các hoạt động trước đây, rối loạn giấc ngủ, cũng như tâm trạng chán nản. Những người bị rối loạn trầm cảm thường có các triệu chứng hoặc rối loạn tâm thần khác như lo âu và các cơn hoảng sợ, có suy nghĩ tự tử, đôi khi làm khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Trầm cảm có thể làm giảm đáp ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể, làm tăng nguy cơ rối loạn tim mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Bởi vì trầm cảm làm tăng cytokin, các yếu tố đông máu tăng cao và nhịp tim giảm là các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với rối loạn tim mạch. Trầm cảm sau sinh chiếm đến 10-15% các trường hợp với biểu hiện trầm buồn, lo âu quá mức, mất ngủ. Nặng hơn, người phụ nữ rơi vào tình trạng loạn thần sau sinh với các biểu hiện kích động, gây hấn, khí sắc trầm hoặc hoang tưởng, hưng phấn, giải thể nhân cách và có hành vi vô tổ chức. Chẩn đoán Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm sau sinh (Theo Cẩm nang chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần, ấn bản 5 của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ), có ít nhất 5 dấu hiệu sau đây, kéo dài suốt 2 tuần hoặc có sự thay đổi cảm xúc [29].
Luôn tự cảm thấy buồn bã, gần như buồn mỗi ngày, biểu hiện như cảm giác trống rỗng, tuyệt vọng hoặc người khác nhận thấy như vậy. Giảm hứng thú với các hoạt động thường ngày, gần như ngày nào cũng vậy, tự nhận xét hoặc người khác nhận thấy vậy. Sụt cân hay tăng cân đáng kể, thay đổi hơn 5% trọng lượng cơ thể trong 1 tháng dù không ăn kiêng để giảm cân hay ăn theo chế độ tăng cân. Thèm ăn quá nhiều hay quá ít so với bình thường mỗi ngày.
Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều gần như mỗi ngày. Rối loạn tâm thần vận động gần như mỗi ngày. Mệt mỏi, cảm thấy hết năng lượng gần như mỗi ngày. Cảm thấy bản thân vô dụng, mất phương hướng.
Giảm khả năng tư duy/tập trung, không thể quyết định được điều gì gần như mỗi ngày. Suy nghĩ nhiều về cái chết, có ý định tự tử nhiều lần mà không có cách thức cụ thể. Tâm sinh lý phụ nữ sau sinh Sự ra đời của một đứa trẻ sơ sinh mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người phụ nữ và gia đình. Bên cạnh đó, sau khi sinh người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về cơ thể: đau đớn phải trải qua do quá trình sinh con, đau có thể kéo dài một vài tuần sau sinh.
Những vấn đề về tâm lý như khi con ra đời, người mẹ thường cảm thấy mình trở nên xấu xí và không còn sự hấp dẫn nữa. Phụ nữ sau sinh thường phải thay đổi về cách sống để chăm sóc con, đặc biệt đối với những người lần đầu làm mẹ, thường quá lo lắng về trách nhiệm làm mẹ của mình, mong muốn là người mẹ hoàn hảo. Có một tỉ lệ khoảng 70- 80% các bà mẹ có những cảm giác buồn thoáng qua, còn gọi là “baby blues” - buồn sau sinh, là một trạng thái biến đổi cảm xúc nhẹ, xuất hiện trong vòng vài ngày đầu sau khi sinh con [26]. Những biểu hiện chính của buồn sau sinh gồm: giảm tinh thần, dao động cảm xúc, buồn rầu, ủ rũ, lo âu, dễ cáu gắt, rối loạn giấc ngủ.
Các rối loạn này kéo dài khoảng 5 - 10 ngày rồi tự mất đi hoàn toàn do thay đổi hormon sau sinh. Những biểu hiện này kéo dài hơn hai tuần, thì có nguy cơ mắc trầm cảm sau sinh. Ngay sau khi sinh, sự sụt giảm nhanh chóng nồng độ estrogen và progesterone, nồng độ hormon tuyến giáp thyroid cũng giảm, nên phụ nữ dễ dẫn đến mệt mỏi, trầm cảm. Suy giảm nồng độ hormon cùng với sự thay đổi về.
huyết áp, chức năng của hệ miễn dịch và những biến đổi về chuyển hóa mà phụ nữ sau sinh phải trải qua là một phần trong căn nguyên gây trầm cảm. Các biểu hiện lâm sàng trong thời kỳ sau sinh, đặc biệt là giai đoạn 6 tuần sau khi sinh thường phản ánh sự phục hồi của các thay đổi sinh lý đã xảy ra trong thai kỳ. Những thay đổi này nhẹ, tạm thời và không nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Các biến chứng sau sinh rất hiếm.
Phổ biến nhất là: Xuất huyết sau sinh Viêm nội mạc tử cung sau sinh Nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm bàng quang và viêm thận-bể thận Viêm tuyến vú Trầm cảm sau sinh 1. Đặc điểm lo âu và trầm cảm sau sinh Bất kỳ phụ nữ nào cũng có thể gặp các triệu chứng trầm cảm hoặc rối loạn lo âu sau sinh. Phụ nữ bị rối loạn lo âu trải qua sự kết hợp của những suy nghĩ hoặc niềm tin lo lắng, các triệu chứng thể chất và thay đổi hành vi, bao gồm tránh các hoạt động hàng ngày họ từng làm. Mỗi rối loạn lo âu có các triệu chứng khác nhau, tất cả đều liên quan đến nỗi sợ hãi có thể xảy ra ở hiện tại hoặc trong tương lai.
Các triệu chứng thực thể của rối loạn lo âu có thể bao gồm: mệt mỏi, hụt hơi, nhịp tim nhanh, buồn nôn, đau dạ dày, nóng bừng, chóng mặt. Triệu chứng này thường xảy ra cùng với các bệnh tâm thần hoặc thể chất khác [38]. Phụ nữ sau sinh có nguy cơ trầm cảm cao nếu trước đó đã trãi qua trầm cảm hoặc rối loạn tâm trạng khác và đang trải qua các sự kiện cuộc sống đặc biệt căng thẳng, hoặc không có sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè. Nhiều phụ nữ bị trầm cảm sau sinh cũng gặp các triệu chứng lo âu.