CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. Cơ sở pháp lý về công tác tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp. Bất kể hoạt động nào của doanh nghiệp đều phải chịu sự chi phối và quản lý của nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động tuyển dụng cũng không ngoại lệ. Trong những năm qua Nhà nước ta cũng đã ban hành rất nhiều văn bản quy định về việc tuyển dụng, sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp tiêu biểu có thể kể đến như: Luật lao động 2012.
Luật doanh nghiệp 2014. Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Nghị định số 53/2016/NĐ-CP Quy định về lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước. Các văn bản này đã quy định rất đầy đủ và chi tiết các nội dung liên quan đến công tác tuyển dụng nhân lực như: Quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động, việc kí kết hợp đồng lao động, các chế độ lương thưởng, đãi ngộ đối với người lao động mà các doanh nghiệp phải tuân theo.
Hệ thống các khái niệm về công tác tuyển dụng nhân lực. Khái niệm nhân lực. Nhân lực được hiểu là nguồn lực con người bao gồm thể lực và trí lực. - Thể lực được hiểu đó là sức khỏe thân thể của mỗi người.
Yếu tố này phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, sức vóc, mức sống, chế độ nghỉ ngơi, chế độ ăn uống, y tế, thể dục thể thao…. - Trí lực chỉ sự thông minh hiểu biết, tài năng, năng khiếu của mỗi người. Ở nước ta khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực.
Theo giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc “Nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng 6 Luan van nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai” [12,278]. Ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng duy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội.
Tuyển dụng nhân lực. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về tuyển dụng nhân lực: Quá trình tuyển dụng nhân lực là quá trình thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng lao động và bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Hay nói cách khác đó là quá trình bù đắp sự thiếu hụt về lực lượng lao động trong tổ chức. Theo nghĩa rộng: tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn và sử dụng người lao động.
Trong cuốn Giáo trình quản trị nhân lực của ThS. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân của trường Đại học kinh tế quốc dân có viết: “ tuyển dụng nhân lực là bao gồm hai quá trình là tuyển mộ và tuyển chọn trong đó tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng bên trong tổ chức” [8. “tuyển dụng nhân lực là quá trình đánh giá các đánh giá ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ” [8. Theo Bùi Văn Danh, Nguyễn Văn Dung, Lê Quang Khôi (2011): “Tuyển dụng là quá trình tuyển chọn các cá nhân có đủ điều kiện cần thiết để đảm nhận các công việc trong tổ chức”[1.
Mặc dù có những cái nhìn khác nhau về tuyển dụng nhưng nhìn chung các khái niệm đều cho thấy quá trình tuyển dụng luôn gắn với việc tìm kiếm, thu hút và 7 Luan van lựa chọn những người có năng lực từ nhiều nguồn khác nhau để phù hợp với vị trí trống trong tổ chức. Do thời gian nghiên cứu hạn chế nên tôi đưa ra cách hiểu chung như sau: “Tuyển dụng nhân lực đó là quá trình nhằm thu hút và tìm kiếm người lao động từ nhiều nguồn khác nhau cho vị trí công việc trống nhằm lựa chọn được những người phù hợp nhất với vị trí mà tổ chức cần nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đề ra”. Tuyển mộ nhân lực. “Tuyển mộ nhân lực là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức nhằm có được một lực lượng ứng viên phù hợp với nhu cầu tuyển dụng” [1.
Đây là việc đầu tiên và tổ chức cần phải làm khi trong tổ chức xuất hiện chỗ trống. Nếu tổ chức thu hút được lượng ứng viên càng lớn thì khả năng tìm kiếm được người phù hợp với vị trí cần tuyển và ngược lại. Để quá trình tuyển mộ nhân lực tốt yêu cầu đặt ra đó là các nhà tuyển dụng cần phải tìm hiểu kĩ lưỡng các yếu tố liên quan đến vị trí tuyển dụng, xác định được nguồn và phương pháp tuyển mộ phù hợp, đưa ra các tiêu chí tuyển mộ phù hợp. Tuyển chọn nhân lực.
“Tuyển chọn nhân lực là quá trình đánh giá năng lực của các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc trong tổng số ứng viên đã thu hút được nhằm lựa chọn đúng ứng viên phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của tổ chức”[9. Tuyển chọn là công việc tiếp theo sau quá trình tuyển mộ. Đây là giai đoạn mà tổ chức sẽ chọn ra được ứng viên có kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, phù hợp nhất với vị trí cần tuyển, văn hóa của tổ chức… có khả năng hòa nhập nhanh với công việc và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Để có thể tuyển chọn được ứng viên các nhà tuyển dụng thông có thể thông qua các cách thức như: thu thập thông tin, thi tuyển (phỏng vấn trắc nghiệm, thực hành tay nghề, kiểm tra kiến thức chuyên môn…) 8 Luan van 1.
Vai trò của tuyển dụng nhân lực. Đối với xã hội. Thông qua sự phát triển kinh tế của các doanh nghiệp, xã hội cũng sẽ đạt được những mục tiêu của mình như : tăng trưởng kinh tế, xã hội phát triển. Giảm tỉ lệ người lao động thất nghiệp, giảm gánh nặng về tất cả các mặt như giáo dục, y tế, văn hóa… Giảm tệ nạn xã hội, có chính sách sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Đây là mục tiêu quan trọng nhất đối với sự phát triển bền vững nguồn lực con người. Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế của đất nước phù hợp hơn. Điều tiết cung cầu về lao động trên thị trường, xác định rõ phương hướng và cách thức đào tạo để phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Đối với người lao động.
Người lao động có cơ hội tìm kiếm công việc phù hợp với bản thân, có thu nhập ổn định, áp dụng các lý thuyết đã được học vào trong thực tế, có cơ hội phát triển hoàn thiện bản thân và thăng tiến. Giúp người lao động có cơ hội tự đánh giá kiểm chứng lại năng lực của bản thân, đánh giá đúng trình độ, năng lực của bản thân mình. Tạo cơ hội cho người lao động tìm hiểu rõ hơn về vị trí tuyển dụng, nhìn nhận một cách khách quan hơn về chuyên môn, lĩnh vực đang học tập đào tạo để có thể đưa ra định hướng đúng đắn nghề nghiệp tương lai phù hợp cho bản thân. Công tác tuyển dụng được thực hiện tốt, đặc biệt thông qua các vòng tuyển chọn ứng viên được tiếp xúc, trao đổi với nhiều nhà tuyển dụng cũng như đội ngũ lãnh đạo ứng viên sẽ thấy được các giá trị của bản thân, mức độ phù hợp với công việc để đưa ra được những quyết định đúng đắn.
Tránh trường hợp bị “sốc” khi vào làm việc tại công ty, giảm thiểu tỉ lệ bỏ việc nhảy việc của người lao động. Đối với tổ chức, doanh nghiệp. Tuyển dụng nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với tổ chức. Đây là yếu tố đầu vào của tổ chức.
9 Luan van Tuyển dụng nhân lực giúp tổ chức bổ sung được nguồn lực cần thiết. Tạo tiền đề cho việc thực hiện tốt các công tác liên quan đến chính sách nhân lực: việc bố trí sắp xếp nhân lực, giải quyết các quan hệ lao động, thù lao lao động. Tuyển dụng nhân lực giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức, tạo thế đứng ổn định trên thị trường. Giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí: chi phí đào tạo phát triển, đầu tư máy móc thiết bị, chi phí tuyển dụng lao động khác, chi phí sản xuất và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của doanh nghiệp từ đó giúp doanh nghiệp giải quyết tốt bài toán tài chính và lợi nhuận.
Đồng thời tuyển dụng nhân lực sẽ giúp tổ chức tạo ra được tinh thần hăng hái thi đua, tăng sức cạnh tranh giữa những người lao động nếu các ứng viên ứng tuyển vào vị trí trống đến từ nguồn bên trong. Tuyển dụng nhân lực từ bên ngoài được coi như mang “luồng ánh sáng mới” đến với tổ chức, tác động vào cách thức làm việc, nghệ thuật giao tiếp, cách ứng xử. nhờ đó bầu không khí làm việc, văn hóa của tổ chức sẽ có điều kiện thay áo mới theo hướng linh hoạt phù hợp với hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Nguyên tắc tuyển dụng nhân lực.
Nguyên tắc phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Đây là nguyên tắc số một trong quá trình tuyển dụng nhân lực cho tổ chức. Xuất phát và căn cứ vào nhu cầu thực tế của tổ chức mà các nhà các nhà tuyển dụng sẽ lựa chọn các phương thức tuyển dụng, nguồn, cũng như chi phí bỏ ra để quá trình tuyển dụng diễn ra một cách hợp lý nhất, hiệu quả và tiết kiệm nhất tránh lãng phí. Để làm được điều này, công ty cần căn cứ vào kế hoạch hóa nguồn nhân lực và bản kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó bám sát nhất so với thực tế mà công ty cần.
Nguyên tắc công bằng, khách quan.