Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Ở Việt Nam, khái niệm về công chức tồn tại và thay đổi theo thời gian. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời sau thắng lợi của cách mạng Tháng 8 năm 1945, tiến hành xây dựng Nhà nước với những quy định Pháp luật mới.
Theo đó, ngày 09 tháng 5 năm 1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 188/SL về lập một chế độ công chức mới và một thang lương chung cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam, nhằm mục đích đơn giản hoá chế độ công chức và cải thiện đời sống. Tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể về công chức cho đến năm 1950 Sắc lệnh 76/SL về Quy chế công chức Việt Nam ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký vào ngày 26 tháng 6 năm 1950. Tại Điều 1, Mục I, Chương thứ nhất Quy chế Công chức Việt Nam quy định “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”. Vào thời điểm đó, kháng chiến vẫn còn diễn ra nên quy chế này vẫn chưa được triển khai.
Ngày 25 tháng 5 năm 1991 Nghị định 169/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về Công chức nhà nước được ban hành, định nghĩa về công chức đã thay đổi và quy định tại Điều 1 của Nghị định: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước”. Nghị định quy định những đối tượng và phạm vi là 9 công chức và những đối tượng không là công chức, những nội dung này là cơ sở cho việc tuyển chọn và sử dụng người làm việc trong cơ quan hành chính và sự nghiệp của Nhà nước, góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước vững mạnh. Luật Cán bộ, Công chức được thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2010 do Quốc Hội ban hành được nhận định là bước phát triển mới, là kết quả của quá trình nghiên cứu và pháp điển hoá các quy định của của pháp luật về cán bộ, công chức. Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 thay thế cho những quy định cũ không còn phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện những quan niệm khoa học và cụ thể hoá các khái niệm, quy định chặt chẽ hơn các nội dung liên quan đến công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: quyền và nghĩa vụ, phân loại công chức, các hoạt động quản lý, đánh giá công chức.
Luật Cán bộ, Công chức được xem là cơ sở pháp lý cho việc ban hành các văn bản dưới Luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải cách nền công vụ Việt Nam hiện nay. Tiếp đó là sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hoá các quy định của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 về công chức như: Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính Phủ về Quy định những người là công chức; Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính Phủ Về công chức xã, phường, thị trấn và một số văn bản dưới luật khác có liên quan. Công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt nam; các tổ chức chính trị xã hội như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan 10 đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp trung ương đến cấp huyện. Theo đó, khái niệm công chức cấp xã được định nghĩa tại Khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng theo quy định của pháp luật thì sẽ đảm nhận các công việc chuyên môn, tham mưu cho lãnh đạo UBND xã trong việc điều hành các công việc cơ quan.
Các chức danh của công chức cấp xã được quy định tại Khoản 3, Điều 61, Luật Cán bộ, Công chức, Công chức cấp xã bao gồm: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. Khái niệm công chức cấp xã được quy định tại Luật cán bộ, công chức năm 2018 chính là khái niệm đang được sử dụng tại Việt Nam hiện nay.
Đặc điểm công chức cấp xã Công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của công chức nói chung trong hệ thống cơ quan hành chính nước. Tuy nhiên, chính quyền cấp xã là cầu nối giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân, đại diện cho nhà nước, để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước ở xã nên công chức cấp xã có 11 những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, Công chức cấp xã được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một chức danh nhất định. Công chức cấp xã được bố trí công việc theo hình thức tuyển dụng vào một chức danh cụ thể và các chức danh công chức cấp xã được quy định cụ thể như trên. Các chức danh công chức cấp xã cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật định về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, độ tuổi.
Ngoài thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành, Công chức cấp xã còn chịu trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho UBND cấp xã trong phạm vi lĩnh vực được phân công phụ trách. Chính vì vậy, tuyển dụng công chức cấp xã là hoạt động cần thiết để lựa chọn những người đủ tiêu chuẩn và năng lực vào một chức danh công chức nhất định tại UBND cấp xã. Thứ hai, công chức cấp xã là người trực tiếp triển khai đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân. Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp triển khai chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được triển khai thực hiện hiệu quả.
Công chức cấp xã với vai trò là chủ thể thực hiện việc phổ biến, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, thông qua hoạt động thực thi công vụ, công chức cấp xã có thể vận động quần chúng nhân dân tham gia thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách theo quy định. 12 Công chức cấp xã đóng vai trò cầu nối giữa nhân dân với bộ máy chính quyền các cấp, có mối quan hệ mật thiết với nhân dân tại địa phương. Thông qua đội ngũ công chức cấp xã, người dân có thể phản ánh, kiến nghị về những vấn đề liên quan đến các chính sách, quy định của Nhà nước và những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong quá trình quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của mình qua phản ánh các vấn đề liên quan đến quyền lợi của bản thân. Thứ ba, Công chức cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, các chế đô, chính sách theo quy định Công chức cấp xã được hưởng những quyền lợi, chính sách như mọi cán bộ, công chức khác theo Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 như chính sách tiền lương, phụ cấp, chế độ nghỉ hưu, thai sản.
Công chức cấp xã là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và được đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng chức danh cụ thể theo quy định. Ngoài những chế độ về quyền lợi được hưởng, công chức cấp xã cũng phải chịu các hình thức kỷ luật khi có hành vi vi phạm pháp luật. Những quy định về tiêu chuẩn, chế độ, quyền lợi của công chức cấp xã được quy định tại Luật Cán bộ, Công chức năm 2008, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP,Thông tư 06/2012/TT-BNV và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Vai trò của công chức cấp xã Thứ nhất, Công chức xã trực tiếp triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Công chức cấp xã là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lí nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo quy định; đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật 13 của Nhà nước được triển khai thực hiện trong cuộc sống; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư và huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình thực thi công vụ, công chức cấp xã nhìn nhận sự bất cập về những quy định, chính sách và phản ánh kịp thời, điều này góp phần vào việc hoàn thiện các quy định, chính sách ngày một tốt hơn. Thứ hai, Công chức xã trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, phản ánh ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Do tính chất và nhiệm vụ được giao, đội ngũ công chức cấp xã phải thường xuyên tiếp xúc với Nhân dân, trực tiếp lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy quyền dân chủ.
Công chức cấp xã được xem là “bộ mặt” của chính quyền cấp xã vì vậy mọi hoạt động của công chức cấp xã đều có ảnh hưởng đến cách nhìn của nhân dân đối với chính quyền cấp cơ sở.