Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ SỬ DỤNG MÁY KÉO LÀM ĐẤT TRỒNG LÚA 1. Tổng quan tình hình cơ giới hóa nông nghiệp và sử dụng máy kéo làm đất. Tình hình cơ giới hóa nông nghiệp và sử dụng máy kéo làm đất ở nước ngoài. Cơ giới hóa là một biểu tượng cho một nền nông nghiệp hiện đại, nó chỉ xuất hiện khi có nhu cầu lớn và nền công nghiệp nước sở tại phát triển mạnh.
Nhiều nước thúc đẩy chương trình cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là khâu làm đất chỉ vì thiếu nhân công hoặc gia súc để cày kéo, hoặc khai thác đất đai rộng lớn quá sức người. Nhiều chính phủ của các nước đang phát triển như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan có chính sách khuyến khích nông dân sử dụng cơ giới để tăng hiệu suất, năng suất, lợi nhuận và giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động. Những biện pháp khích lệ thường bao gồm miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu cho các máy móc và thiết bị, cung cấp tín dụng dễ dàng, tài trợ các dịch vụ liên hệ cơ giới hóa nông nghiệp [7]. Ngành nông nghiệp truyền thống nhất là ngành trồng lúa đòi hỏi rất nhiều sức lao động, hiệu quả kinh tế thấp; nhưng nguồn nhân lực nông thôn từ từ giảm sút do sức thu hút việc làm và đời sống ở thành thị.
Do đó, công nghiệp hóa có cơ hội lớn mạnh ở các nước đã phát triển như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước khác ở châu Mỹ La Tinh, Bắc Phi và châu á đang có nền kinh tế phát triển nhanh. Ngoài ra, còn có một số nước đang phát triển ở châu Phi, như Senegal, Côte divoire và Kenya đã có chính sách ưu tiên phát triển cơ giới hóa sản xuất lúa vào thập niên 1960 và 1970 của thế kỷ 20 để hiện đại hóa đất nước; trong khi lực lượng lao động làm việc ở nông thôn vẫn còn dư thừa. Cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp đặc biệt là khâu làm đất không những là phương tiện hữu hiệu để đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm đầy đủ download by : skknchat@gmail.com 4 cho nhu cầu dân số tăng nhanh, mà còn tiết kiệm được năng lượng, nguồn tài nguyên và góp phần vào phát triển công nghiệp và dịch vụ trong nước. Mục tiêu cuối cùng của cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp là làm thay đổi cuộc sống ở nông thôn được tốt đẹp và đấy đủ hơn trong các nước đang phát triển.
Cuộc Cách Mạng Xanh xảy ra trên thế giới vào thập niên 1970 và 1980 thế kỷ 20 đã thúc đẩy mạnh sử dụng các lực lượng hỗ trợ nông dân, gồm cả các phương tiện cơ giới khâu làm đất và các khâu khác để đẩy mạnh sản xuất. Các nước Âu - Mỹ đã bắt đầu thực hiện cơ giới hóa từ những năm 30-40 của thế kỷ 20 [6], đến nay đã đạt đến mức đồng bộ và tự động một số khâu công việc. Do đất rộng người thưa (bình quân diện tích rất lớn: Mỹ 61 ha/người, Canađa 97 ha/người, các nước Anh Pháp, Đức bình quân 6-12 ha/người [7]. Do đó cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp hàng đầu.
Các máy được trang bị và sử dụng là những máy có công suất lớn, làm việc năng suất cao như máy kéo bánh bơm công suất 75-300 kw để thực hiện các khâu công việc làm đất, chăm sóc, thu hoạch. Bình quân mã lực cho 1 ha đất canh tác tại Mỹ 25 Hp/ha, các nước Tây Âu 18 Hp/ha, các nước Đông Âu cũ 5-8 Hp/ha (1990), vì thế lao động nông nghiệp chỉ còn 5-10% [7]. Cơ giới hóa là sự biến đổi vô cùng quan trọng về công cụ sản xuất, làm cho năng suất lao động và chất lượng nông sản hàng hóa tăng lên nhiều lần, thu nhập của người nông dân tăng lên rất cao. Ở Mỹ năm 1994 mỗi lao động nông nghiệp trung bình sản xuất 9.929 kg lương thực các loại, 19.223 kg trứng, thỏa mãn nhu cầu của 100 người dân trong nước và xuất khẩu 1/3 sản phẩm ra thị trường thế giới [7].
Sử dụng máy kéo làm đất có thể tạo ra công việc làm ở nông thôn bằng các hoạt động máy móc, và dịch vụ liên hệ ngoài nông nghiệp. Cơ giới hóa làm đất giúp chống lại xói mòn đất đai và giảm bớt thời gian làm việc, công sức của người lao động. Trong 1940 của thế kỷ 20, máy cày phay chôn các rơm rạ lúa mì làm giảm đất xói mòn do nước và gió, và đồng thời bảo tồn download by : skknchat@gmail.com 5 nước lâu dài trong đất. Ở các nước đang phát triển, cơ giới hoá khâu làm đất nông nghiệp giúp nông dân có nhiều thời gian để thâm canh vụ và dành cho các công việc đồng áng khác khi vụ mùa đang ở đỉnh cao.
Nông dân có thể áp dụng các kỹ thuật trồng trọt tiên tiến dễ dàng, không còn bị chậm thời vụ khi dùng nhiều sức lao động, nhưng công việc lại chậm chạp. Cơ giới hoá khâu làm đất Tình trạng sản xuất lúa cơ giới hóa trên thế giới đa dạng, thay đổi tùy theo từng lục địa. Ở những nước cơ giới hóa cao, nông dân không hẳn luôn luôn có nông trại lớn với hàng trăm hoặc hàng ngàn hecta, mà còn có các nông trại nhỏ độ 10-20 ha. Ở Mỹ và các nước châu Mỹ La Tinh phần lớn có những nông trại lớn từ 50 ha đến hàng ngàn ha, trong khi châu Âu và các nước Baltics có những nông trại trung bình từ 10-200 hecta.
ở Nhật Bản và Hàn Quốc, phần lớn nông dân có các ruộng lúa rất nhỏ từ 0,5 đến 5 ha mà thôi. Hiện nay, thế giới có 58 nước trong tổng số 112 nước trồng lúa trên thế giới được cơ giới hóa hoàn toàn và một phần chủ yếu là khâu làm đất [7]. Cơ giới hóa khâu làm đất chiếm tỉ số tương đối ít, độ 5-10% trong các nước cơ giới có trồng thêm lúa rẫy ở các vùng đất gợn sóng hoặc đồi núi, như ở châu Mỹ La Tinh. download by : skknchat@gmail.com 6 Khuynh hướng phát triển cơ giới hóa nông nghiệp được phản ánh qua đẩy mạnh sử dụng máy kéo làm đất trên thế giới.
Sử dụng máy kéo tăng nhanh trong thời kỳ Cách Mạng Xanh (CMX), sau đó mức độ trở nên chậm chạp. Tổng số máy kéo tăng từ 13,3 triệu trong 1961 (trước CMX) lên cao điểm 26,7 triệu trong 1990 (sau CMX), hay tăng 4,5% mỗi năm. Từ 1990 đến nay, mức tăng trưởng số máy kéo rất chậm, chủ yếu do các nước Âu, Mỹ và các quốc gia chuyển tiếp (Ðông Âu) [7]; trong khi cơ giới hóa vẫn còn tiếp tục phát triển ở Châu Á, Trung Ðông và châu Mỹ La Tinh & Caribbean. Ở một số nước Châu Á mức độ cơ giới hóa trong từng khâu của sản xuất nông nghiệp thể hiện ở bảng (1.1), trong đó: mức độ cơ giới hóa làm đất, tưới tiêu và vận chuyển thực hiện trước và cao nhất, sau đó tiếp đến các khâu khác như gieo cấy, thu hoạch.1: Mức độ cơ giới hóa các khâu canh tác chủ yếu (năm 1994) Khâu công việc, % Tên nước Làm đất Cấy lúa Tưới tiêu Thu hoạch Vận chuyển Trung Quốc 63,1 24,7 60,2 15 60 Hàn Quốc 100 97 94 95 100 Thái Lan 90 5 50 20 - Nhật Bản 100 99 - 99 100 Đài Loan 98 98 - 98 100 Mức trang bị động lực tùy theo từng nước, mức độ trang bị động lực của từng nước thể hiện ở bảng (1.2) và lọai máy kéo trang bị của một số nước ở bảng (1.
Ở nước phát triển diện tích đất lớn, cây trồng cạn là chủ yếu, mức độ cơ giới hóa cao thì dùng máy có công suất lớn. Ở các nước đất chật người đông, ruộng đất nhỏ hẹp dùng máy kéo nhỏ là chính. Các nước xung quanh ta như Philippin, Indonexia, Thái Lan mức độ trang bị đều cao hơn nước ta. Riêng Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan cao gấp nhi`ều lần.
download by : skknchat@gmail. Mức độ trang bị động lực Tên nước Mã lực/ ha canh tác Nhật Bản 7 Hàn Quốc 4,2 Thái Lan 1,35 Ấn Độ 0,5 Philippin 0,8 Indonexia 0,72 CHDCNN Triều Tiên 0,5 Trung Quốc 3,8 Đài Loan 2,8 Bảng 1. 3: Máy móc trang bị năm 1994 Tên nước Loại máy Trung Quốc Hàn Quốc Thái Lan Ấn Độ Đài Loan Máy kéo 4 bánh 690.700 Số liệu của Hàn Quốc, Trung Quốc tính đến 1998; Nhật Bản, Đài Loan trước 1996, các nước khác 1990. Tại một số nơi có nền sản xuất lúa nước phát triển ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, và Đài Loan, quá trình sản xuất lúa được cơ giới hóa hoàn toàn, mang tính đồng bộ cao.
Đặc biệt là khâu làm đất, ruộng đất được quy hoạch tốt, hệ thống thủy lợi đầu tư đầy đủ, kế hoạch sản xuất phải được thiết lập đảm bảo cho việc ứng dụng máy móc một cách đồng bộ và triệt để. Mỗi nước, mỗi quốc gia có một mô hình quản lý khác nhau. Tại Nhật Bản từ năm 1967 đã cơ giới hóa làm đất 66%, trong đó ruộng nước 96%,. Từ đầu những năm 90, Nhật Bản xúc tiến mở rộng quy mô trang trại, kích thước lô thửa ruộng để chuyển hướng sử dụng máy kéo và máy nông nghiệp cỡ 5 - 10 Hp sang 20 - 30 Hp và lớn hơn.
Đến nay quy mô ruộng đã đạt từ 0,5 -1 ha, 2,5- 3 ha và lớn hơn, nhưng lớn nhất không vượt quá 10 ha. Tỷ lệ diện tích sử download by : skknchat@gmail.com 8 dụng máy kéo làm đất tại Nhật Bản tăng dần năm đến 1980 đã đạt tỷ lệ 100% [16]. Đài Loan cơ giới hóa chủ yếu mang tính dịch vụ. Nhưng dù dưới hình thức nào thì việc lập kế hoạch trong sản xuất mang tính khoa học rất cao.
Quá trình phát triển cơ giới hóa nông nghiệp ở Đài Loan chia 3 giai đoạn: - Từ năm 1955 – 1970: Chủ yếu sử dụng máy kéo tay, guồng tuốt lúa đạp chân nhập khẩu từ Nhật Bản. - 1970 – 1983: Cơ giới hóa làm dất và các khâu khác trong sản xuất nông nghiệp. - Từ năm 1984 đến nay: Cơ giới hóa đã phát triển đồng bộ, ngoài lúa, cơ giới hóa cây trồng cạn, làm vườn cũng được phát triển. Đến 1995 cơ bản hoàn thành cơ giới hóa nông nghiệp, tỷ lệ cơ giới hóa các khâu đạt 95%.
Trung Quốc luôn coi nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế quốc dân và cơ giới hóa đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp. Tính đến cuối năm 2008, tổng động lực máy nông nghiệp ở Trung Quốc đạt 822 triệu KW, tăng 6,5% so với năm 2007.