MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài K. Marx từng nói: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ”. Con người sống trong xã hội luôn có sự tương tác với cá nhân, với nhóm, hình thành các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ liên nhân cách thông qua sự tương tác lẫn nhau.
Thật vậy, con người sống trong xã hội không thể thiếu đi sự tương tác với người khác. Sự tương tác xã hội là điều kiện không thể thiếu để một nhân cách hình thành và phát triển. Ở bất cứ nơi đâu, con người đều cần sự tương tác với người khác. Trường học cũng không ngoại lệ.
Sự tương tác trong phạm vi trường học có những tính chất đặc thù nhất định. Nhờ vào sự tương tác mà hoạt động dạy và hoạt động học mới được diễn ra và đạt được mục đích. Hiện nay ở hầu hết các trường đại học, việc học tập theo học chế tín chỉ được nhân rộng, đây là phương pháp học tập tiên tiến với những ưu điểm nổi trội như tính mềm dẻo, tính chủ động cao của người học, đáp ứng nhu cầu học tập của người học. Tuy nhiên cũng phát sinh nhiều vấn đề như quản lý mục tiêu đào tạo, quản lý hoạt động của giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên,.
Đối với vấn đề về quản lý hoạt động học tập của sinh viên, việc phải theo dõi và có những cách thức hỗ trợ sinh viên giúp cho việc tương tác tốt hơn nhằm đạt hiệu quả đào tạo là một vấn đề cấp thiết. Ngày nay, giáo dục đào tạo được chú trọng không phải về số lượng mà về chất lượng. Trong khi đó, thời gian học tập của sinh viên không nhiều. Việc học theo học chế tín chỉ khiến cho sinh viên tiếp xúc với nhiều cá nhân, nhiều nhóm khác nhau, một mặt giúp sinh viên có thể giao lưu với nhiều nhóm bạn nhưng chính điều này lại hạn chế sự tương tác của sinh viên đối với nhau và đối với nhóm bạn cũ.
Việc hình thành nên sự tương tác khi phải thay đổi quá nhiều nhóm bạn có thể gây cản trở nhất định đến sự hình thành các mối quan hệ bạn bè, đặc biệt là đối với những cá nhân hạn chế về khả năng thích nghi, giao tiếp,. Cùng với yêu cầu và mục đích của việc học tập theo học chế tín chỉ khi đòi hỏi tính chủ động cao của người học, việc tương tác tâm lý càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Khi việc tương tác trong hoạt đọng học 1 tập của sinh viên được nghiên cứu để biết rõ thực trạng cũng như có những cách thức tác động cải thiện nó phù hợp thì mới góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo. Hiện nay, đã có những nghiên cứu liên quan đến vấn đề tương tác của sinh viên.
Tuy nhiên, sự tương tác mới chỉ dừng lại trong hoạt động dạy là chủ yếu, việc nghiên cứu về vấn đề tương tác giữa sinh viên với sinh viên vẫn là một mảng đề tài bị bỏ ngỏ, hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Vì thế, người nghiên cứu chọn đề tài “Tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. HCM” nhằm nghiên cứu sự tương tác tâm lý giữa sinh viên và sinh viên trong môi trường đại học. Mục đích nghiên cứu Khảo sát thực trạng tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Khách thể nghiên cứu Sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Giả thuyết nghiên cứu - Tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.
HCM ở mức trung bình trở lên; - Tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM biểu hiện ở tần số tương tác là cao nhất; - Không có sự khác biệt ý nghĩa khi so sánh tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. HCM theo các tham số nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 5. Nghiên cứu lý luận - Tìm hiểu các công trình nghiên cứu trước đây về tương tác tâm lý giữa sinh viên với sinh viên trong hoạt động học tập - Làm rõ khái niệm: tương tác, tương tác tâm lý, hoạt động học tập.
Nghiên cứu thực tiễn - Khảo sát thực trạng tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trường Đại học Sư phạm TP. HCM trên các mặt: sự tương hợp tâm lý; sự tương hợp, ảnh hưởng tâm lý; tần số tương tác và sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi giữa sinh viên với sinh viên. Giới hạn đề tài 6. Về đối tượng nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu tương tác tâm lý trong hoạt động học tập giữa sinh viên với sinh viên, không nghiên cứu tương tác tâm lý giữa sinh viên với các lực lượng khác trong nhà trường.
Đề tài chỉ nghiên cứu tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên xét trên một số khía cạnh: nhu cầu tương tác; sự tương hợp và ảnh hưởng tâm lý; tần số tương tác và sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi. Về khách thể nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: 300 sinh viên trường Đại học Sư phạm TP. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, báo, tạp chí, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa tài liệu. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp toán thống kê.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯƠNG TÁC TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tương tác tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên 1. Trên thế giới 1. Mối quan hệ liên nhân cách - Mối quan hệ xã hội - Tương tác tâm lý - Mối quan hệ liên nhân cách Lên quan đến mối quan hệ liên nhân cách, trên thế giới đã có những nghiên cứu về nó. Ananhev đưa ra vấn đề thuộc nguyên tắc về tính chất hoạt động các mối quan hệ của nhân cách với thế giới và ông phân bố kiểu mẫu của nhân cách theo quá trình phát triển trong quá trình sống.
Ông đã hoàn thiện và vượt qua một cách triệt để từ vấn đề về cấu trúc các yếu tố tâm lý trong nhân cách đến vấn đề về cách tổ chức nhân cách của các mối quan hệ với thế giới, chú ý tới quá trình tiến triển của các thuộc tính cuối cùng. Tuy nhiên, việc thử thực hiện tiếp cận mang tính hệ thống đến việc nghiên cứu nhân cách đã mâu thuẫn với phương thức tĩnh tại của các kết cấu phân tích từng đoạn trong cuộc sống của dạng xã hội tâm lý trong tâm lý học xã hội (Dẫn theo Cao Thị Nga, 2016). Liden và Sandy J. Wayne (2000) đã có nghiên cứu “Nghiên cứu về vai trò trung gian của sự trao quyền tâm lý đối với mối quan hệ giữa việc làm, mối quan hệ liên cá nhân và kết quả làm việc”.
Mục đích của cuộc điều tra là xây dựng và thử nghiệm một mô hình trao quyền cho phép kết hợp đặc điểm công việc và các mối quan hệ trao đổi xã hội trong việc giải thích các kết quả công việc (Robert & Sandy, 2000). Các nhà nghiên cứu đã xác định mối quan hệ giữa các cá nhân với các đồng nghiệp như là một yếu tố quan trọng trong hành vi làm việc, có ảnh hưởng tích cực đến kết quả công việc. Những kết quả này chỉ ra rằng mặc dù thái độ về bản thân công trình có thể bị chi phối bởi các nhận thức về đặc điểm công việc (khi chúng hoạt động thông qua trao quyền), nhưng các mối quan hệ giữa các cá nhân có ý nghĩa quan trọng đối với việc tổ chức và thực hiện công việc, trong đó sự hỗ trợ và hướng dẫn mà người 4 ta nhận được từ cấp trên và đồng nghiệp có ý nghĩa quan trọng (Robert & Sandy, 2000). Kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy các đồng nghiệp có những tác động tích cực đến hiệu suất làm việc của một cá nhân.
Trong một môi trường mà ảnh hưởng của việc ra quyết định đã được chuyển từ các nhà quản lý chính thức sang các thành viên trong nhóm làm việc, sự hỗ trợ và hướng dẫn từ đồng đội đã hỗ trợ các cá nhân trong việc đạt được hiệu suất cao hơn. Điều thú vị là sự hỗ trợ và hướng dẫn của cấp trên trực tiếp không liên quan đến việc thực hiện công việc (Robert & Sandy, 2000). Như vậy, mối quan hệ liên nhân cách chủ yếu được tiếp cận trên 2 khía cạnh chính: thứ nhất là nghiên cứu về bản chất các mối quan hệ liên nhân cách; thứ 2 là gắn mối quan hệ liên nhân cách với các yếu tố khác để mô tả sự ảnh hưởng, tác động qua lại giữa chúng. - Mối quan hệ xã hội Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến mạng lưới mối quan hệ xã hội.
Nhà tâm lý học J. Moreno được coi là người có công đầu tiên phát minh ra phương pháp phân tích mạng lưới quan hệ xã hội bằng việc đề xuất phương pháp và kĩ thuật trắc lượng xã hội ngay từ tác phẩm “Ai sẽ là người sống sót” (Who Shall Survive, 1934). Sau khi phương pháp trắc lượng xã hội ra đời, các nhà nghiên cứu đã không ngừng phát triển các phương pháp phân tích mạng lưới quan hệ xã hội mới. Có thể kể đến các lý thuyết tiêu biểu trong phân tích mạng lưới quan hệ xã hội như lý thuyết “sức mạnh của liên kết yếu” của Granovetter, lý thuyết “lỗ hổng cấu trúc” của Ronald Burt, lý thuyết “tính đồng dạng” của Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin và James M.
5 Một số nghiên cứu khác liên quan đến mối quan hệ xã hội như: Một số nghiên cứu khác về mối quan hệ xã hội như: nghiên cứu “Quan hệ xã hội và sức khỏe” của James S. Landis, Debra Umberso; “Mối quan hệ và vai trò của nó trong việc sử dụng hệ thống quản lý tri thức”,. Như vậy, quan hệ xã hội là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu trên thế giới. Mối quan hệ xã hội được tiếp cận bằng cách đề ra các phương pháp nghiên cứu, đồng thời có những công trình nghiên cứu cụ thể về mối quan hệ xã hội, gắn nó với một nhiệm vụ thực tiễn cần giải quyết.