mở đầu sự khổ mới 1.2 Tập đế (hay Nhân đế) Triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ. “Tập” là tụ hợp, kết tập lại. Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt…Những nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta. Đạo Phật cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự khổ, phiền não là do “thập nhị nhân duyên”, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con người.
Có thể tóm lại như sau: vô minh (ngu tối), hành (suy nghĩ dẫn tới hành động), thức (hành động tác động đến ý thức), danh sắc, lục nhập (6 giác quan của con người), xúc (tiếp xúc), thụ (cảm thụ), ái (yêu thích), thủ (chiếm đoạt), hữu (sở hữu), sinh (xuất hiện), lão (già) và tử (chết). Nhìn chung chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm duyên cho cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau. Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình.3 Diệt đế Diệt đế là chân lý về diệt khổ.
Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể tiêu diệt được khi đạt tới trạng thái “niết bàn”. Muốn diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh. Khi vô minh bị diệt, trí tuệ sẽ bừng sáng, hiểu rõ được bản chất của tồn tại, không còn tham dục, tạo nghiệp, sẽ thoát khỏi vòng luân hổi sinh tử. Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một nơi nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong 10 cõi thế gian này, nhờ sự tu hành nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái an lạc, siêu thoát, tịnh diệt.4 Đạo đế Đạo đế là con đường, là môn pháp hướng dẫn cho chúng sinh đạt được đến quả, giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử.
Có 8 con đường chân chính để đạt sự diệt khổ dẫn đến niết bàn gọi là “Bát chính đạo”. Bát chính đạo bao gồm: 1. Chính kiến: hiểu biết đúng đắn và gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã. Chính tư duy: suy nghĩ luôn có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm.
Chính ngữ: nói năng phải đúng đắn, không nói dối hay nói phù phiếm. Chính nghiệp: giữ nghiệp đúng đắn, tránh phạm giới luật, không làm việc xấu, nên làm việc thiện. Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn, tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh. Chính tinh tiến: cố gắng nổ lực đúng hướng không biết mệt mỏi để phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
Chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát, luôn tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý. Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu đế, vô ngã, vô thường, tâm ý đạt bốn định xuất thế gian. Để đi qua tám con đường trên thì không ngoài ba nguyên tắc: giới, định, tuệ hay còn gọi là tam học. Muốn thực hiện được Bát chính đạo phải có phương pháp để thực hiện, nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình, cho mọi người và khuyến khích mọi người làm điều thiện có ích cho mình và cho người.
Nội dung các phương pháp đó là thực hiện Ngũ giới (Năm điều răn) và Lục độ (Sáu phép tu). Các nguyên tắc này có sự liên hệ mật thiết bổ sung cho nhau. 11 CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam được tiếp nhận dễ dàng, tự nhiên vì tư tưởng có nhiều điểm tương đồng với phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc. Phật giáo từ ngoại lai trở thành bản địa, từ xa lạ trở thành thân thuộc với mọi người.
Có thể nói, chính truyền thống sẵn có của dân tộc đã dễ dàng hòa quyện với giáo lý Phật giáo, tạo nên một chủ nghĩa tích cực mang màu sắc Việt Nam, một nhân tố bền vững trong nhân sinh quan của dân tộc. Tư tưởng của Phật giáo rất đồ sộ, có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Việt. Tư tưởng Phật giáo hướng đến đạo đức, từ bi, khoan dung Phật giáo chủ trương đem tình yêu thương đến với mọi người. Từ bi là phạm trù thuộc tứ vô lượng tâm, bao gồm: từ, bi, hỷ, xả.
Tâm từ là tình thương bao la, không giới hạn; đem lại hạnh phúc cho mọi người, mọi loài, cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh mà quên đi những lợi ích của bản thân. Tâm bi là thương xót vô lượng, vô biên nhưng không bi lụy, vì thế trở thành động lực cho việc cứu khổ, cứu nạn. Đây cũng là đức tính giúp cho con người sống cao thượng hơn, gần gũi hơn. Tâm hỷ là sống vui vẻ, bất kể thất bại, nghịch cảnh, vui với thành công của người khác là vô lượng vô biên.
Tâm xả là đem hết sức mình để cứu người, giúp người không mong bù đắp, là tinh thần hy sinh vì tha nhân. Tâm từ và tâm bi là tiền đề, khởi đầu cho tâm hỷ, tâm xả. Sự rung động, lòng trắc ẩn, cao thượng hướng về nỗi đau của người khác sẽ định hướng cho con người trong lý trí, hành động, sẵn sàng quên mình vì mọi người. Xây dựng tứ vô lượng tâm, Phật giáo muốn nhấn mạnh vào cái tâm của con người, đó là đạo đức, lòng người, trí tuệ.
Cái tâm của con người nằm trong mối quan hệ biện chứng với xã hội. Do đó, khi nói đến đạo đức của Phật giáo, người ta thường nói đến từ bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha, cho nên tứ vô lượng tâm vừa là cái thiện hoàn chỉnh, vừa là lòng khoan dung rộng lớn của Phật giáo. Nhân sinh quan Phật giáo đã hòa đồng với tập quán, tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam. Đạo đức xã hội coi trọng chữ tâm, coi đây là gốc để tạo nên sức mạnh, động lực cho sự phát triển xã hội.
Tư tưởng Phật giáo đã góp phần củng cố đạo đức xã hội, tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc, khơi dậy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, góp phần tạo nên nhân cách con người. Tư tưởng Phật giáo phù hợp với truyền thống nhân đạo, 12 thương người như thể thương thân của đạo lý người Việt. Tinh thần này còn được biểu hiện cao độ ở trong đối xử với tù nhân ở các cuộc chiến tranh nhân dân, khi đã quy hàng thì luôn nhận được sự đối xử khoan hồng của nhân dân ta; những kẻ lầm đường, lạc lối khi đã hối lỗi cũng luôn nhận được sự tha thứ của dân tộc. Xây dựng triết lý lấy vị tha làm lẽ sống cao cả, lý tưởng của mình Phật giáo nói đạo lý vô ngã là muốn con người hiểu rằng cái tôi thực ra chỉ là giả tướng do 4 đại: đất, nước, lửa, gió tạm thời hợp nhau tạo thành, theo quy luật có ngày nó sẽ bị tan rã, suy yếu, già rồi chết.
Do vậy, con người không nên mê muội theo đuổi danh lợi, không cần thiết phải tranh giành mà cần phải độ lượng, khoan dung với mọi người. Đó cũng chính là cách con người hoàn thiện bản thân để tiến tới giải thoát. Với thuyết vô thường, vô ngã, Phật giáo đem lại cho con người một triết lý sống vị tha, nhân bản. Khi đã thấu suốt được chân lý này, con người sẽ vươn lên khỏi cuộc sống vị kỷ mà sống theo tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha.
Như vậy, Phật giáo là một tôn giáo giàu tình thương, yêu chuộng hòa bình. Với lý tưởng nhân văn, bác ái, Phật giáo dễ gắn bó với quần chúng, gần gũi với quan niệm nhân đạo cộng sản chủ nghĩa. Yêu nước là giá trị cao nhất của người Việt Nam. Một dân tộc phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhưng trong đời sống luôn tha thiết hòa bình, quan văn trọng hơn quan võ.
Ngay từ khi được du nhập vào nước ta, Phật giáo đã thẩm thấu vào truyền thống yêu nước trong suốt chiều dài lịch sử truyền thống dân tộc, thâm nhập vào đạo đức dân tộc theo truyền thống vì nghĩa, vì nước. Các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đã có nhiều vị cao tăng là quốc sư, giúp vua về chính trị, quân sự, nội trị bang giao được lưu truyền trong sử sách. Các thiền sư giúp vua nhưng không tham quyền, tham lợi nên luôn được vua tin tưởng. Các thiền sư ở Việt Nam tu hành không phải theo lối bi quan, yếm thế mà luôn đồng hành cùng dân tộc, nhất là trong những thời điểm lịch sử khi đất nước có giặc ngoại xâm.
Điều này có thể coi là sự hóa thân của Phật giáo vào truyền thống đạo đức của dân tộc. Không phải chỉ khi Phật giáo là quốc giáo mà ngay cả khi đã nhường chỗ cho Nho giáo vào đầu TK XV thì ảnh hưởng của nó đến đời sống đạo đức của nhân dân ta vẫn rất đậm nét. Chẳng hạn tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi: việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo cũng rất gần gũi, tương đồng với đạo đức Phật giáo. 13 Nếp sống của con người Việt Nam hướng nội, rất nhạy cảm trước mọi niềm vui, nỗi buồn của người khác, sẵn sàng chia sẻ, đồng cam cộng khổ với những người xung quanh.
Cái nghĩa ấy, ngoài yếu tố truyền thống, cũng có ảnh hưởng từ giáo lý nhân sinh Phật giáo. Bởi vậy, trong giải quyết các mối quan hệ, người Việt đề cao việc lấy cái tâm làm gốc, thiên về tình cảm. Trong gia đình, việc thờ cúng tổ tiên là một truyền thống, đạo lý của người Việt Nam, được cộng hưởng bởi đạo đức Phật giáo. Đạo đức Phật giáo hướng thiện, chống cái ác, cảm hóa con người Trong giáo lý Phật giáo, dù ở bất kỳ tập kinh, luận hay luật nào, dù ít hay nhiều cũng ngầm chứa những tư tưởng về cái thiện, mà tiêu chí đầu tiên là bất sát.
Giá trị cao đẹp của đạo đức Phật giáo là từ bi, cứu khổ, cứu nạn. Nó vượt qua thời gian, không gian vì nó nhằm bảo vệ, phát huy, duy trì nhân bản, làm điều lành, hướng về điều lành hoặc ít nhất là đừng làm cái ác, đừng hướng về cái ác.