Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Mai thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2012), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Thị Hòa Hới, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62.05).

+-----------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN                                                        |
+----------------------+------------------------------------------------------------+
| Tác giả              | Nguyễn Thị Phương Mai                                      |
| Tên đề tài           | Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó            |
| Chuyên ngành         | Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử  |
| Mã số chuyên ngành   | 62.05                                                      |
| Cơ sở đào tạo        | Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN        |
| Người hướng dẫn      | PGS.TS. Đỗ Thị Hòa Hới                                     |
| Năm bảo vệ           | 2012                                                       |
| Kết cấu văn bản      | Mở đầu, 3 chương (7 tiết), Kết luận, Danh mục công trình,  |
|                      | Danh mục tài liệu tham khảo                                |
+----------------------+------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong thế kỷ XX, các mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc và chế độ chính trị chủ yếu được giải quyết bằng hình thức đối đầu quân sự, dẫn tới hai cuộc chiến tranh thế giới và việc sử dụng vũ khí nguyên tử. Khi các cuộc chiến tranh kết thúc, nhân loại tiếp tục đối mặt với các nguy cơ xung đột mới nảy sinh từ chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa khủng bố, căng thẳng sắc tộc, xu hướng bảo thủ tôn giáo, trào lưu bài ngoại và nạn phân biệt chủng tộc. Bên cạnh đó, xu hướng áp đặt văn hóa từ các quốc gia có ưu thế kinh tế - kỹ thuật ("đế quốc văn hóa") làm gia tăng nguy cơ xung đột văn minh.

Trước tình hình đó, xu hướng đối thoại dần thay thế cho đối đầu. Tổ chức UNESCO xác định khoan dung là nguyên tắc nền tảng để xây dựng văn hóa hòa bình, phát động "Năm quốc tế về khoan dung" (1995) và "Thập niên văn hóa hòa bình" (2001 - 2010). Tuy nhiên, thái độ thiếu khoan dung vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa các nguyên tắc dân chủ và an ninh toàn cầu. Tại Việt Nam, truyền thống khoan dung được đúc kết qua lịch sử hàng nghìn năm chống ngoại xâm, thể hiện qua chính sách hòa hiếu, cấp lương thực phương tiện cho quân xâm lược bại trận trở về quê hương và đường lối sẵn sàng làm bạn, hợp tác cùng phát triển trong thời kỳ đổi mới.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các tài liệu nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận khoan dung từ các lát cắt riêng lẻ như đạo đức học, tôn giáo học, văn hóa học hoặc tâm lý học; thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống từ giác độ triết học duy vật lịch sử nhằm làm rõ quy luật hình thành, sự phát triển nội hàm khái niệm và mối liên hệ biện chứng giữa tư tưởng khoan dung với thực tiễn chính trị - xã hội trong thời đại toàn cầu hóa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trình bày có hệ thống và khái quát nội dung chính của tư tưởng khoan dung từ góc độ triết học; làm rõ ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng khoan dung vào thực tiễn; xác định ý nghĩa của tư tưởng này đối với Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
    1. Thứ nhất: Làm rõ khái niệm khoan dung, từ đó hệ thống hóa và khái quát hóa một số nội dung chính của tư tưởng khoan dung trong lịch sử triết học phương Tây và triết học phương Đông.
    2. Thứ hai: Làm rõ nội dung và vai trò của khoan dung trong thực tiễn đầu thế kỷ XX thông qua tư tưởng và hoạt động của hai đại biểu tiêu biểu là Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh.
    3. Thứ ba: Phân tích tính tất yếu và phổ quát của tư tưởng khoan dung ở thời hiện đại, từ đó nêu lên yêu cầu cùng những thuận lợi, khó khăn của việc thực hiện tư tưởng này trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng khoan dung của một số nhà triết học, nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu trong tiến trình lịch sử nhân loại.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về mặt lịch sử tư tưởng: Khảo sát các quan điểm triết học tiêu biểu thời kỳ cổ đại, trung đại và cận đại ở phương Tây (phái ngụy biện, Socrates, Plato, Aristotle, các nhà tư tưởng Kitô giáo, John Locke, Pierre Bayle, Voltaire, Immanuel Kant) và phương Đông cổ đại.
    • Về mặt thực tiễn chính trị - xã hội: Khảo sát sự kết hợp giá trị Đông - Tây trong tư tưởng và hoạt động giải phóng dân tộc của Mahatma Gandhi (1869 - 1948) và Hồ Chí Minh (1890 - 1969) đầu thế kỷ XX.
    • Về mặt không gian và thời gian ứng dụng: Bối cảnh toàn cầu hóa đương đại và thực tiễn công cuộc đổi mới tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và điểm luận các tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm vấn đề và hướng tiếp cận chuyên ngành cụ thể:

+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG HỢP CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ĐƯỢC ĐIỂM LUẬN                                                |
+--------------------+-------------------------------------------+--------------------------------------+
| Hướng nghiên cứu   | Tác giả và năm công bố                    | Tên công trình / Nội dung chính      |
+--------------------+-------------------------------------------+--------------------------------------+
| Nguồn gốc và lịch  | Yves Charles Zarka (1993)                 | "La tolérance: Force et fragilité    |
| sử tư tưởng        |                                           | de la modernité"                     |
|                    | Marcel Conche (1993)                      | "La tolérance française et sa        |
|                    |                                           | signification universelle"           |
|                    | Renato Cristi (1993)                      | "Toleration, reconciliation and      |
|                    |                                           | philosophy"                          |
|                    | Lương Mỹ Vân (2007)                       | "Tư tưởng khoan dung trong triết     |
|                    |                                           | học Khai sáng Pháp"                  |
+--------------------+-------------------------------------------+--------------------------------------+
| Lĩnh vực tôn giáo  | Đỗ Quang Hưng (1997)                      | "Tôn giáo và khoan dung: trường hợp  |
|                    |                                           | của Việt Nam"                        |
|                    | Hajine Nakamura (2006)                    | "Tinh thần khoan dung và sự hoà giải |
|                    |                                           | trong tư duy của người Ấn Độ"        |
|                    | Hoàng Thị Thơ (2007, 2008)                | Các bài viết về khoan dung Phật giáo |
|                    |                                           | Ấn Độ và Việt Nam (vua Asoka, Akbar) |
|                    | Lê Tâm Đắc, Tạ Quốc Khánh (2003)          | "Tính hỗn dung của người Việt..."    |
|                    | Đỗ Lan Hiền (2007), Nguyễn Đức Lữ (2008)  | Khoan dung tín ngưỡng, tôn giáo VN   |
+--------------------+-------------------------------------------+--------------------------------------+
| Lĩnh vực văn hóa   | Michio Morishima, Alexander N. Yakovlev,  | Tập hợp công trình chuẩn bị Đại hội  |
|                    | Daya Krishna, Souleyman B. Diagne (1993)  | Triết học thế giới XIX (Mátxcơva)    |
|                    | Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn (1997) | "Bàn về khoan dung trong văn hoá"    |
|                    | Đỗ Huy (1994)                             | "Bao dung là một lối sống văn hoá"   |
|                    | Trần Nguyên Việt (2011)                   | So sánh Khổng Tử và Nguyễn Trãi      |
|                    | Vũ Khiêu (1998), Phạm Xuân Nam (2005),    | Khoan dung văn hóa và truyền thống   |
|                    | Tạ Ngọc Liễn (2006), Trần Văn Giàu (1996) | bản địa Việt Nam                     |
+--------------------+-------------------------------------------+--------------------------------------+
| Khoan dung trong tư| Ngô Phương Bá (1993), Song Thành (2003),  | Nghiên cứu tư tưởng khoan dung       |
| tưởng Hồ Chí Minh  | Hồ Trọng Hoài (2003, 2005),               | Hồ Chí Minh trên các bình diện tôn   |
|                    | Đỗ Thị Hòa Hới (2008),                    | giáo, văn hóa, nhân cách đạo đức     |
|                    | Nguyễn Tấn Hưng (2010)                    | và đại đoàn kết dân tộc              |
+--------------------+-------------------------------------------+--------------------------------------+
| Lĩnh vực đạo đức   | Michael Dummett (1993)                    | "Tolerance" (Khoan dung đạo đức)     |
| và chính trị       | Phạm Xuân Nam (1995)                      | "Khoan dung phải là tên gọi mới      |
|                    |                                           | của hoà bình"                        |
|                    | Đỗ Minh Hợp (2011)                        | "Đối thoại giữa các nền văn minh..." |
+--------------------+-------------------------------------------+--------------------------------------+

Đánh giá của tác giả về các nghiên cứu trước và khoảng trống giải quyết

Tác giả nhận xét rằng các công trình đã công bố đóng góp nhiều tư liệu về biểu hiện của khoan dung trong các lĩnh vực chuyên biệt. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những điểm hạn chế lý luận:

  • Chưa tiếp cận khoan dung như một phạm trù triết học có tiến trình vận động, phát triển gắn liền với các điều kiện tồn tại xã hội tương ứng.
  • Chưa làm rõ tính quy định tất yếu của thực tiễn lịch sử đối với sự biến đổi nội hàm của khái niệm khoan dung qua các thời kỳ.
  • Chưa phân tích đầy đủ "sợi dây liên kết" chuyển hóa từ nhận thức lý luận khoan dung sang hành động thực tiễn chính trị - xã hội.
  • Chưa giải đáp thấu đáo câu hỏi vì sao trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, khoan dung lại trở thành một tất yếu khách quan và là một vấn đề triết học mang tính phổ quát.

Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát có hệ thống tiến trình lịch sử tư tưởng, xác lập định nghĩa triết học về khoan dung, phân tích sự tích hợp Đông - Tây trong hoạt động thực tiễn của M. Gandhi và Hồ Chí Minh, từ đó rút ra các yêu cầu thực hiện khoan dung trong công cuộc đổi mới tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Thế giới quan và phương pháp luận: Dựa trên các nguyên lý, quy luật và phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin (mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập tương đối và tính vượt trước của ý thức xã hội, vai trò của thực tiễn).
  • Khung phân tích khái niệm: Sử dụng văn kiện quốc tế của UNESCO gồm Dự thảo Tuyên bố về sự khoan dung (Istanbul, 16/4/1993), Tuyên ngôn những nguyên lý về khoan dung (Declaration of Principles on Tolerance, 1995), các định hướng của Liên hợp quốc về văn hóa hòa bình kết hợp với việc khảo cứu ngữ nghĩa học thuật ngữ.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG PHÂN TÍCH BỐN PHƯƠNG THỨC TIẾP CẬN VỀ KHOAN DUNG (CHƯƠNG 1)                 |
+--------------+----------------------------------+---------------------------------+
| Phương thức  | Quan niệm về chân lý / giá trị   | Thái độ đối với sự khác biệt    |
+--------------+----------------------------------+---------------------------------+
| Thứ nhất     | Chân lý hiển nhiên, khuôn mẫu;   | Bàng quan, chịu đựng thụ động;  |
|              | khác biệt tôn giáo/siêu hình học | không có động thái tích cực để  |
|              | không ảnh hưởng chuẩn tắc chung  | hiểu sâu sắc quan điểm khác     |
+--------------+----------------------------------+---------------------------------+
| Thứ hai      | Các giá trị đặc thù quyết định   | Tôn trọng quyền tồn tại của nền |
|              | hoạt động; các hệ chuẩn bất khả  | văn hóa khác nhưng khép kín,    |
|              | ước, bình đẳng nhưng cô lập      | không giao lưu tương tác        |
+--------------+----------------------------------+---------------------------------+
| Thứ ba       | Thấy rõ ưu thế hệ thống của mình;| Chịu đựng, bao dung với hạn chế |
|              | phê phán hệ thống khác nhưng     | của người khác; mang tính tiêu  |
|              | không dùng vũ lực áp đặt         | cực (chấp nhận khi chưa bị phiền|
+--------------+----------------------------------+---------------------------------+
| Thứ tư       | Chân lý đạt được qua tương tác,  | Tôn trọng lập trường người khác,|
| (Tích cực /  | đối thoại, phê phán và tự phê    | sẵn sàng thay đổi nhận thức qua |
| Biện chứng)  | phán; chấp nhận mình có thể sai  | đối thoại có phê phán           |
+--------------+----------------------------------+---------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc ngành triết học, sử dụng phối hợp các phương pháp:

  • Phương pháp biện chứng duy vật: Xem xét tư tưởng khoan dung trong sự vận động, phát triển và mối liên hệ qua lại với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa của từng thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử: Tái hiện tiến trình phát triển của tư tưởng khoan dung từ cổ đại, trung đại, cận đại đến hiện đại, đồng thời khái quát hóa bản chất lý luận của tư tưởng.
  • Phương pháp phân tích văn bản và nghiên cứu lịch sử triết học: Khảo sát trực tiếp các tác phẩm, luận điểm của các triết gia phương Tây (Socrates, John Locke, Pierre Bayle, Voltaire, Kant...), các kinh điển phương Đông và tác phẩm của M. Gandhi, Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp so sánh và khái quát hóa: So sánh quan niệm khoan dung giữa các thời kỳ, giữa triết học phương Đông và phương Tây, giữa lý luận và thực tiễn hoạt động cách mạng.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp triết học với triết học văn hóa, triết học tôn giáo, đạo đức học và xã hội học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Các văn bản triết học kinh điển phương Tây và phương Đông.
  • Văn kiện, nghị quyết và tuyên ngôn của Liên hợp quốc và UNESCO (Hiến chương LHQ, Tuyên ngôn 1995...).
  • Tác phẩm, bài viết và hoạt động thực tiễn trong Hồ Chí Minh Toàn tập và các tài liệu về phong trào giải phóng dân tộc của Mahatma Gandhi.
  • Các từ điển chuyên ngành: Hán Việt từ điển giản yếu (Đào Duy Anh), Từ điển từ Hán Việt (Phan Văn Các), Từ điển Hán Việt từ nguyên (Bửu Kế), Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), Từ điển bách khoa Việt Nam.
  • Các công trình nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo triết học trong và ngoài nước (tài liệu Đại hội Triết học thế giới lần thứ XIX năm 1993...).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG

1. Khảo sát thuật ngữ và định nghĩa khái niệm "khoan dung"

Luận án tiến hành so sánh nguồn gốc từ nguyên của thuật ngữ khoan dung qua nhiều ngôn ngữ:

  • Gốc Latinh: tolerare và tolerantia mang nghĩa chịu đựng, nhẫn nhục, tự kiềm chế cảm giác tức giận trước sự khác biệt, tự giác chấp nhận những điều khác mình.
  • Tiếng Anh (tolerance, tolerant, tolerate, toleration), tiếng Pháp (tolérance, tolérant, tolérer), tiếng Nga (терпимость - từ thuần Nga, và толерантность - từ gốc Latinh).
  • Trong tiếng Việt và Hán - Việt: Tác giả phân tích sự khác biệt giữa "bao dung" và "khoan dung" qua các bộ từ điển:
    • Đào Duy Anh giải thích "bao dung" là người có đại độ (độ lượng rộng lớn); "khoan dung" là sự rộng rãi dung nạp được nhiều.
    • Phan Văn Các xác định "bao dung" là tính từ chỉ độ lượng lớn, còn "khoan dung" là động từ chỉ sự rộng lòng tha thứ; chữ "khoan" là một trong bốn đức tính của người quân tử theo Nho giáo (khoan, tín, mẫn, huệ).
    • Bửu Kế chiết tự: "bao" là trùm lên, "dung" là tha thứ; "khoan" là rộng rãi.
    • Hoàng Phê định nghĩa "bao dung" là tính từ, "khoan dung" là động từ tha thứ lỗi lầm.
    • Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa khoan dung là thái độ ứng xử rộng lượng của người trên đối với kẻ dưới quyền.

Tác giả luận án chỉ ra rằng không nên hiểu khoan dung hạn hẹp là sự ban ơn, hạ mình hay tha thứ của kẻ trên đối với người dưới, mà cần hiểu theo nghĩa rộng:

Khoan dung là một phạm trù dùng để chỉ thái độ, cách ứng xử tôn trọng, xóa bỏ sự kỳ thị đối với cái khác biệt; là việc chấp nhận có phê phán những cái khác mình trên vũ đài công khai và có sự thuyết phục tất cả các bên trên cơ sở hiểu mình, hiểu người để cùng tồn tại trong hòa bình.

2. Lịch sử tư tưởng khoan dung ở phương Tây từ cổ đại đến cận đại

  • Hy Lạp cổ đại:
    • Phái ngụy biện (Sophists): Đặt nền móng cho nguyên tắc đa tư tưởng, đối thoại và tranh biện trí tuệ (agonius); giải phóng tư duy khỏi các khuôn mẫu tập quán truyền thống, hợp nhất cái riêng (ý kiến cá nhân) với cái chung (lý tính).
    • Socrates (470 - 399 TCN): Đề cao tâm thế khoan dung qua luận điểm "Tôi chỉ biết rằng tôi không biết gì"; phân biệt đối thoại (cùng tìm chân lý) với tranh luận (ganh đua ý kiến); sử dụng phương pháp "đỡ đẻ" (maieutic) và nghệ thuật mỉa mai (irony) để làm sạch ý thức khỏi tính giáo điều.
    • Plato và Aristotle: Plato đưa đối thoại thành nghệ thuật văn học và phép biện chứng; Aristotle hệ thống hóa biện chứng thành lôgíc học.
  • Tây Âu thời Trung cổ:
    • Khoan dung chủ yếu bị giới hạn trong quan niệm thần học kinh viện, được xem là phẩm chất của thánh nhân chịu đựng cái ác để tránh cái ác lớn hơn.
    • Sự ra đời của hệ thống trường đại học kinh viện tạo lập môi trường học thuật đề cao trí tuệ và đạo đức, giảm bớt sự phân biệt huyết thống và đẳng cấp xã hội.
    • Vấn đề khoan dung tôn giáo xuất hiện từ Sắc lệnh Milan (313) của hoàng đế Constantin và Licinius, qua các phong trào Cải cách giáo hội (Martin Luther, Erasmus, Thomas More) và cuộc Chiến tranh Ba mươi năm (1618 - 1648).
  • Thời kỳ Cận đại và Triết học Khai sáng:
    • John Locke (1632 - 1704): Với tác phẩm Thông điệp về khoan dung (A Letter Concerning Toleration), ông khẳng định khoan dung là đặc trưng cơ bản của giáo hội chân chính; phản đối áp đặt niềm tin bằng máu và gươm; phân định rõ ranh giới thẩm quyền của nhà nước (bảo vệ mạng sống, tự do, tài sản của công dân bằng luật pháp) và thẩm quyền của giáo hội (cứu rỗi linh hồn bằng sự thuyết phục tự nguyện).
    • Pierre Bayle (1647 - 1706): Tác phẩm Từ điển phê phán và lịch sử (1697) yêu cầu tự do tôn giáo và khẳng định các diễn giải Kinh thánh không được vi phạm các nguyên tắc đạo đức phổ quát.
    • Voltaire (1694 - 1778): Các tác phẩm Những bức thư triết học (1734), Luận về khoan dung (1763), Từ điển triết học (1764) xác định khoan dung là đặc tính riêng có của loài người ("C'est l'apanage de l'humanité"), là phương thức duy nhất đẩy lùi cuồng tín và bất hòa tôn giáo.
    • Immanuel Kant (1724 - 1804): Tác phẩm Hướng tới nền hòa bình vĩnh cửu (1795) đặt nền móng lý luận cho việc thiết lập trật tự hòa bình thế giới dựa trên lý tính và sự tôn trọng quyền con người.

3. Tư tưởng khoan dung ở phương Đông cổ đại

Luận án trình bày tư tưởng khoan dung trong các trường phái triết học phương Đông:

  • Nho giáo với tư tưởng "Nhân ái", "Trung thứ" ("Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác"), chủ trương "Hòa nhi bất đồng" (hòa hợp nhưng không đồng hóa, giữ gìn sự khác biệt).
  • Phật giáo với giáo lý "Từ bi", "Hỷ xả", thuyết Duyên khởi, bình đẳng chúng sinh và nguyên tắc bất bạo động.
  • Đạo giáo với tư tưởng "Vô vi", hòa đồng cùng tự nhiên, tôn trọng quy luật tự nhiên và sự đa dạng của vạn vật.

CHƯƠNG 2: SỰ TÍCH HỢP CÁC GIÁ TRỊ ĐÔNG - TÂY CỦA TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG TRONG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG Ở MAHATMA GANDHI VÀ HỒ CHÍ MINH

+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| BẢNG SO SÁNH SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG Ở MAHATMA GANDHI VÀ HỒ CHÍ MINH (CHƯƠNG 2)               |
+----------------------+----------------------------------------+---------------------------------------+
| Nội dung phân tích   | Mahatma Gandhi (1869 - 1948)           | Hồ Chí Minh (1890 - 1969)             |
+----------------------+----------------------------------------+---------------------------------------+
| Nguồn gốc tư tưởng   | Triết lý truyền thống Ấn Độ (Hindu giáo| Truyền thống nhân ái, khoan dung Việt |
|                      | Ahimsa, Kỳ Na giáo, Phật giáo) kết hợp | Nam; Nho giáo, Phật giáo; kết hợp tinh|
|                      | tư tưởng phương Tây (Tolstoy, Ruskin)  | hoa Khai sáng Pháp, Tuyên ngôn Mỹ và  |
|                      |                                        | chủ nghĩa Mác - Lênin                 |
+----------------------+----------------------------------------+---------------------------------------+
| Nguyên tắc cốt lõi   | Bất bạo động (Ahimsa) và Kiên trì Chân | Lấy dân làm gốc, Nhân nghĩa vì con    |
|                      | lý (Satyagraha)                        | người, Độc lập dân tộc gắn liền CNXH  |
+----------------------+----------------------------------------+---------------------------------------+
| Hoạt động thực tiễn  | Đấu tranh bất bạo động chống thực dân  | Xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, |
| đối nội              | Anh; xóa bỏ kỳ thị đẳng cấp Harijan    | đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện  |
|                      | (người cùng khổ); hòa giải Hindu-Hồi   | tự do tín ngưỡng, hòa hợp lương - giáo|
+----------------------+----------------------------------------+---------------------------------------+
| Hoạt động thực tiễn  | Đối thoại hòa bình với chính quyền     | Chính sách nhân đạo với tù hàng binh; |
| đối ngoại / chiến    | thực dân; kêu gọi tình anh em nhân loại| nguyên tắc "thêm bạn bớt thù"; sẵn    |
| tranh                | không biên giới                        | sàng đàm phán hòa bình, khép lại quá  |
|                      |                                        | khứ hướng tới hợp tác tương lai       |
+----------------------+----------------------------------------+---------------------------------------+

1. Khoan dung trong hoạt động thực tiễn của Mahatma Gandhi (1869 - 1948)

  • Nguồn gốc và nội dung: Kết hợp triết lý tôn giáo truyền thống Ấn Độ (bất hại - Ahimsa của Hindu giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo) với tư tưởng nhân văn phương Tây. Khoan dung trong nhận thức của Gandhi là phương tiện thực hành chân lý (Satyagraha), từ chối sử dụng bạo lực đối với kẻ thù và tôn trọng sự bình đẳng tâm linh của mọi con người.
  • Biểu hiện thực tiễn: Vận động đấu tranh giải phóng dân tộc bằng phương pháp bất bạo động; kiên trì hàn gắn mối quan hệ xung đột sâu sắc giữa cộng đồng người theo đạo Hindu và đạo Hồi; đấu tranh xóa bỏ định kiến xã hội đối với tầng lớp người cùng khổ (Harijan - con của Thượng đế).

2. Khoan dung với tư cách là cơ sở của sự nghiệp giải phóng con người và bảo vệ đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh

  • Nguồn gốc và nội dung: Kế thừa truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc Việt Nam (được tôi luyện qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước); tiếp thu tư tưởng bác ái của Nho giáo, từ bi của Phật giáo, tư tưởng dân chủ - nhân quyền của cách mạng Pháp và Mỹ, kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa nhân đạo mácxít.
  • Vận dụng vào thực tiễn:
    • Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc: Tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, quá khứ chính trị; thực hiện chính sách đoàn kết lương - giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng.
    • Chính sách đối với kẻ thù và đối ngoại: Thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo đối với tù binh, hàng binh; tìm kiếm mọi khả năng thương lượng hòa bình để ngăn chặn chiến tranh; sau chiến tranh, chủ trương khép lại quá khứ, bình thường hóa quan hệ trên tinh thần hòa hiếu, bình đẳng và tôn trọng độc lập chủ quyền.

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

1. Khoan dung và vấn đề "chung sống hòa bình" trong thế giới toàn cầu hóa

  • Tính cấp thiết: Toàn cầu hóa kinh tế và bùng nổ công nghệ thông tin thúc đẩy sự giao lưu quốc tế nhưng đồng thời làm gia tăng nguy cơ xung đột văn hóa, tâm lý bài ngoại và chủ nghĩa khủng bố. Khoan dung trở thành điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại hòa bình và phát triển bền vững của nhân loại.
  • Nội dung và ý nghĩa: Khoan dung là cơ sở thiết lập "thế kỷ của đối thoại", bác bỏ mưu toan đồng hóa văn hóa, tôn trọng tính đa dạng của các nền văn minh theo định hướng của UNESCO; chuyển hóa các mâu thuẫn đối kháng thành quan hệ đối thoại hợp tác.

2. Một số vấn đề của khoan dung ở Việt Nam hiện nay

  • Lý do và bài học lịch sử: Lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam để lại bài học kinh nghiệm sâu sắc về tính khoan dung: khoan dung để tập hợp lực lượng toàn dân chống ngoại xâm; khoan dung để tạo lập hòa hiếu lâu dài sau chiến tranh; khoan dung để tiếp nhận và dung hợp các dòng chảy văn hóa, tôn giáo ngoại sinh (tam giáo đồng nguyên) mà không đánh mất bản sắc dân tộc.
  • Yêu cầu và ý nghĩa trong thời kỳ đổi mới:
    • Về mặt đối nội: Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố sự đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện bình đẳng và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; xóa bỏ mặc cảm quá khứ, tập hợp kiều bào hướng về xây dựng quê hương.
    • Về mặt đối ngoại: Vận dụng nguyên tắc khoan dung để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; "Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế".
    • Về mặt giáo dục và văn hóa: Xây dựng môi trường giáo dục tôn trọng sự khác biệt, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới, nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ về đối thoại và giải quyết bất đồng bằng phương thức hòa bình.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa tiến trình hình thành và phát triển của tư tưởng khoan dung từ thời kỳ cổ đại Hy Lạp, trung đại Tây Âu, triết học Khai sáng đến hiện đại; làm sáng tỏ các biến đổi trong nội hàm khái niệm qua từng điều kiện lịch sử cụ thể.
  • Xây dựng định nghĩa phạm trù khoan dung dưới góc độ triết học duy vật lịch sử, phân biệt rõ khoan dung tích cực (dựa trên đối thoại có phê phán và tự phê phán để cùng phát triển) với thái độ chịu đựng thụ động hoặc sự nhượng bộ vô nguyên tắc.
  • Luận giải cơ sở triết học về sự tích hợp giá trị Đông - Tây trong tư tưởng khoan dung ở hai đại biểu cách mạng tiêu biểu phương Đông đầu thế kỷ XX là Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Chứng minh tính tất yếu của việc thực hiện tư tưởng khoan dung như một giải pháp nền tảng nhằm giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong bối cảnh toàn cầu hóa và đa văn hóa hiện nay.
  • Đề xuất các yêu cầu vận dụng tư tưởng khoan dung vào thực tiễn Việt Nam thời kỳ đổi mới:
    1. Thể chế hóa và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo bằng hệ thống pháp luật.
    2. Nâng cao văn hóa đối thoại trong sinh hoạt chính trị - xã hội, xây dựng sự đồng thuận xã hội trên cơ sở tôn trọng các ý kiến đóng góp xây dựng đất nước.
    3. Quán triệt tinh thần khoan dung trong giáo dục và đào tạo, rèn luyện kỹ năng tiếp nhận cái mới và tư duy phê phán cho thế hệ trẻ.
    4. Vận dụng tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh vào đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phân tích tiến trình tư tưởng ở một số trường phái và đại biểu triết học tiêu biểu thời cổ - cận đại phương Tây cùng hai nhà hoạt động thực tiễn Gandhi và Hồ Chí Minh; chưa thể bao quát toàn bộ các trào lưu triết học hiện đại phương Tây thế kỷ XX - XXI bàn về chủ nghĩa đa văn hóa và lý thuyết hành động giao tiếp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục khảo sát sâu hơn các lý thuyết khoan dung hiện đại trong triết học chính trị phương Tây đương đại.
    • Nghiên cứu so sánh chuyên sâu về cơ chế chuyển hóa giữa các giá trị đạo đức truyền thống phương Đông với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về khoan dung trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Triết học, Lịch sử triết học, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Hồ Chí Minh học, Văn hóa học và Quan hệ quốc tế.
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các học phần Lịch sử triết học phương Tây, Lịch sử tư tưởng phương Đông, Triết học văn hóa và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
    • Cán bộ hoạch định chính sách: Tham khảo trong việc xây dựng chính sách văn hóa, tôn giáo, dân tộc, chính sách đại đoàn kết dân tộc và đường lối đối ngoại.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo:
    • Khảo luận ngữ nghĩa học và phân tích 4 phương thức tiếp cận khái niệm khoan dung (Chương 1).
    • Khảo cứu lịch sử triết học từ Socrates, John Locke, Pierre Bayle đến Voltaire và Kant (Chương 1).
    • Mô hình tích hợp giá trị Đông - Tây trong tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Gandhi và Hồ Chí Minh (Chương 2).
    • Các luận điểm về đối thoại văn hóa và đại đoàn kết dân tộc thời kỳ đổi mới (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt khái niệm "khoan dung" với "bao dung" như thế nào?

Theo khảo cứu của tác giả qua các từ điển Hán - Việt (Hán Việt từ điển giản yếu, Từ điển từ Hán Việt, Từ điển tiếng Việt), "bao dung" thường được dùng như tính từ chỉ độ lượng rộng lớn trùm lên, trong khi "khoan dung" là động từ chỉ hành vi rộng lòng tha thứ, thường gắn với đức tính của người quân tử ("khoan" trong khoan, tín, mẫn, huệ). Luận án lưu ý cách hiểu thông thường coi khoan dung là sự gia ân của kẻ trên đối với người dưới là chưa thỏa đáng. Theo nghĩa triết học hiện đại, khoan dung là phạm trù chỉ thái độ tôn trọng, xóa bỏ kỳ thị đối với sự khác biệt, chấp nhận có phê phán trên cơ sở đối thoại bình đẳng để cùng chung sống hòa bình, không đồng nghĩa với sự nhượng bộ hay ban ơn.

2. Bốn phương thức hiểu về tư tưởng khoan dung được luận án tổng kết là gì?

Luận án chỉ ra 4 phương thức:

  1. Coi chân lý là hiển nhiên; khác biệt tôn giáo/siêu hình học không ảnh hưởng đến trật tự đạo đức chung $\rightarrow$ chấp nhận thụ động, bàng quan, không nỗ lực tìm hiểu.
  2. Coi các giá trị đặc thù quyết định hoạt động; các nền văn hóa bất khả ước, bình đẳng nhưng tự khép kín $\rightarrow$ tôn trọng sự khác biệt nhưng không tương tác, không giao lưu.
  3. Nhận thấy ưu thế của hệ thống mình và phê phán hệ thống khác nhưng không dùng vũ lực áp đặt $\rightarrow$ chịu đựng, bao dung với khiếm khuyết của người khác (khoan dung tiêu cực).
  4. Coi tương tác, phê phán và tự phê phán là điều kiện phát triển chân lý; sẵn sàng thay đổi lập trường thông qua đối thoại $\rightarrow$ khoan dung tích cực, là lý tưởng phát triển của văn hóa hiện đại.

3. Đóng góp cụ thể của John Locke và Voltaire đối với tư tưởng khoan dung là gì?

  • John Locke (1632 - 1704): Trong tác phẩm Thông điệp về khoan dung, ông luận chứng khoan dung là đặc trưng của giáo hội chân chính, kiên quyết phản đối việc dùng vũ lực áp đặt đức tin; đồng thời phân định ranh giới rành mạch giữa chức năng của nhà nước (bảo vệ quyền sống, tự do, tài sản bằng pháp luật) và chức năng của giáo hội (cứu rỗi linh hồn bằng sự thuyết phục nội tâm).
  • Voltaire (1694 - 1778): Trong Luận về khoan dung và Từ điển triết học, ông xác định khoan dung là đặc tính riêng có của loài người ("C'est l'apanage de l'humanité"), là quy luật đầu tiên của tự nhiên nhằm tha thứ cho những lầm lẫn của nhau, coi khoan dung là phương thuốc duy nhất dập tắt các cuộc chiến tranh và xung đột cuồng tín.

4. Luận án phân tích sự tích hợp giá trị Đông - Tây trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua những điểm nào?

Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống nhân ái, khoan dung của dân tộc Việt Nam cùng tinh hoa phương Đông (lòng nhân Nho giáo, từ bi Phật giáo), đồng thời tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng, nhân quyền của phương Tây và chủ nghĩa nhân đạo mácxít. Trong thực tiễn, Người vận dụng khoan dung để xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết tôn giáo, thực hiện chính sách nhân đạo đối với tù hàng binh và kiên trì nguyên tắc hòa bình, hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Mai là công trình khoa học chuyên ngành triết học nghiên cứu có hệ thống về tư tưởng khoan dung từ góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác phẩm đã làm rõ nguồn gốc từ nguyên, bản chất khái niệm và quy luật vận động của tư tưởng khoan dung qua các thời kỳ lịch sử phương Tây và phương Đông, đồng thời phân tích thành công sự tích hợp các giá trị văn hóa nhân loại trong hoạt động thực tiễn của Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh. Công trình cung cấp các luận cứ triết học có giá trị phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử tư tưởng và gợi mở những định hướng thiết thực cho việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện đối thoại văn hóa và mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.