phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương, 4 tiết 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN TÀI 1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhân tài 1. Truyền thống quý trọng hiền tài của dân tộc Thu hút và trọng dụng nhân tài đã trở thành quốc sách, thành đạo đức và thấm sâu vào quan niệm sống của dân tộc Việt Nam. Suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong điều kiện phải liên tục đương đầu với những thách thức từ phía tự nhiên (thiên tai), hay thách thức từ phía xã hội (địch họa), trong bối cảnh các nguồn lực vật chất còn vô cùng hạn hẹp thì nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ trở thành nguồn lực vô cùng quan trọng, giúp dân tộc Việt Nam vượt qua những thách thức ấy.
Đây chính là một trong những kinh nghiệm quý báu mà cha ông ta để lại cho các thế hệ sau, và nó được lưu truyền trong dân gian hay trong các văn bản được ghi chép lại. Trước hết là trong dân gian. Truyền thống trọng dụng nhân tài được thể hiện trong các truyền thuyết dân gian - thể loại văn học phản ánh mơ ước, nguyện vọng của nhân dân. Truyền thuyết Thánh Gióng đã phản ánh nguyện vọng cầu người tài chống lại “địch họa” của vua Hùng ngay từ buổi đầu lập nước.
Bên cạnh “địch họa”, dân tộc Việt Nam cũng luôn phải đối mặt với “thiên tai”. Khát vọng trị thủy được nhân dân gửi gắm qua hình ảnh Sơn Tinh. Trong truyền thuyết, chi tiết vua Hùng kén rể chính là một hình thức để tuyển chọn nhân tài. Sơn Tinh được làm phò mã bởi chàng là biểu tượng cho người tài hướng thiện.
Do đó, việc nhân dân ta tôn vinh Sơn Tinh chính là tôn vinh những người có tài, đức, mang tài năng, trí tuệ cống hiến cho nhân dân. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong nhân dân, truyền thống này được lưu giữ trong các bản hương ước làng và được truyền từ đời này sang đời khác. Trong làng có riêng một quỹ ruộng gọi là “học điền” để làm phần thưởng cho những người đỗ đạt. Các Nho sinh sau khi thi thi đỗ sẽ làm lễ “vinh quy bái tổ”, được dân làng đón tiếp long trọng, nhiều làng còn dựng nhà cho người đỗ đạt.
Ngôi nhà ở quê nội của gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được chính dân làng dựng khi thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng. Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng: trọng dụng nhân tài là dòng chảy xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Hồ Chí Minh đã tiếp thu các giá trị tích cực trong truyền thống của dân tộc làm tiền đề cho việc đề ra tư tưởng, quan điểm về tìm kiếm, tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ trí thức trong cách mạng. Kế thừa truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài của dân tộc từ thời kỳ dựng nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã luôn coi trọng và phát huy vai trò của giáo dục để phát hiện, đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài.
Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Nhân tài là nguyên khí của nhà nước, nguyên khí mạnh thì trị đạo mới thịnh” [12, tr.13], “Việc chính trị lớn của đế vương không gì cần bằng nhân tài” [11,tr. Thứ nhất, trong việc tìm kiếm, phát hiện người tài. Các đời vua chúa xưa đều thống nhất ở chỗ, muốn có người tài giỏi, phải chiêu hiền, đãi sĩ, đãi cát tìm vàng, gia công tìm kiếm mới có. Cách tốt nhất là phải tuyển dụng người tài theo con đường thi cử.
Tại Bia Văn Miếu, Quốc tử Giám có ghi: “Đường lối trị nước không có gì hơn là chọn nhân tài, mà nhân tài tiến thân ắt phải bằng con đường khoa cử. Xét từ đời Thành chu đã có việc tuyển chọn tiến sĩ. Trải các đời Hán, Đường, Tống cũng đều dựa vào khoa cử tuyển lựa kẻ sĩ. Thế thì việc đặt khoa cử để lấy nhân tài có từ lâu rồi” [3, tr.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh đó, ông cha ta đã có những cách tuyển chọn rất độc đáo. Hiền tài không chỉ được tìm kiếm trong quan văn, quan võ mà đã mở rộng ra ở cả các làng nghề, các nghệ nhân trong các tầng lớp nhân dân. Ngoài ra còn thông qua nhận biết nhân tướng và qua một số hoàn cảnh để thử tài trí và tấm lòng kiên trung, trong sạch của người hiền tài như phái đi xa để xem sự trung thành, bởi vì đi xa thì khó đôn đốc, khó kiểm tra để xem người đó có tự giác, tận tâm với công việc hay không. Hoặc giao cho nhân tài nhiều công việc có lớn, có nhỏ, có khó, có dễ để xem năng lực của người đó như thế nào… Thử thách con người qua những hoàn cảnh khó khăn cho thấy, việc tuyển chọn nhân tài của người xưa thực sự kỹ càng và khoa học.
Việc tuyển chọn hiền tài được áp dụng một số biện pháp như: Cầu hiền, tiến cử, tự tiến cử, kết hợp giữa tiến cử và tự tiến cử, thi cử. Cầu hiền là hình thức mời gọi người tài. Thời vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết “Chiếu cầu hiền tài”. Trong cuốn Đại Nam thực lục năm 1827, vua Minh Mạng ban Chiếu “Đạo trị nước phải lấy việc gây dựng nhân tài làm việc ưu tiên mà phương pháp gây dựng thì trước hết phải nuôi dưỡng người tài”.
Tiến cử là hình thức giao trách nhiệm cho tất cả mọi người nếu phát hiện dược người tài thì báo với vua hoặc quan cấp trên; tự tiến cử là tự mình tìm đến vua để trình bày kế sách, mưu lược, tự giới thiệu mình (như Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi); thi cử là hình thức tuyển chọn qua các kỳ thi. Nhân tài trong chế độ phong kiến ở nước ta có nguồn gốc khác nhau, có người thuộc dòng dõi quý tộc (Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, .), nhưng có người lại thuộc tầng lớp thứ dân (Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão,. Thứ hai, để sử dụng nhân tài có hiệu quả, ông cha ta cũng đã rất chú trọng tới việc đào tạo, bồi đưỡng nhân tài. Các trường Quốc Tử Giám (dạy 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn) và Giảng Võ Đường (dạy võ) đã đào tạo nhiều nhân tài, tri thức cho đất nước.
Bia Văn Miếu cũng đã có ghi “ Muốn xây dựng nền thịnh trị cho đất nước, phải dựa vào nhân tài nước nhà. Nhân tài sinh ra bao la khôn cùng, song có dạy mới nên, có dựng mới thấy” [4, tr. Thứ ba, trong sử dụng, trọng dụng nhân tài. Phương cách dùng người qua các triều đại phong kiến Việt Nam đã đúc kết thành một quy luật: bậc “minh quân”, “vua sáng”, biết sử dụng hiền tài sẽ có “tôi hiền”, nhân dân an ấm, yên vui.
Ngược lại, bạo chúa dung nạp nịnh thần làm cho đất nước lầm than, trăm họ thống khổ. Về trọng dụng nhân tài, cha ông ta cho rằng: tôn trọng, sử dụng người có tài, để họ ở vị trí xứng đáng, người tài trong thiện hạ sẽ vui lòng phục vụ triều đinh. Nguyên tắc sử dụng người tài cũng là tùy tài mà giao việc, tài cao mà giao việc nhỏ thì dẫn đến nhân tài chán mà bỏ việc, tài nhỏ mà giao việc lớn sẽ hỏng việc. Ông cha ta cũng rất chú trọng đến việc tôn vinh các bậc hiền tài, những người có tài, đức và công lao với quê hương.
Nhà vua sẽ đích thân trọng thưởng theo công trạng và khi họ mất đi thì được nhân dân thờ cúng, suy tôn. Có thể thấy, để thu hút và trọng dụng người có tài trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, ông cha ta đã vận dụng nhiều phương pháp khác nhau, với những thời điểm và với những đối tượng khác nhau, nhưng tựu chung lại, ở tất cả các thời kỳ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, việc thu hút và trọng dụng người hiền tài đều quan tâm đến các nội dung sau: Một là, phải biết tìm người tài ở đâu và làm thế nào để thu hút được họ. Hai là, phải biết sử dụng người tài như thế nào, bố trí người tài vào những vị trí, chức vụ nào cho phù hợp. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ba là, phải biết làm thế nào để bảo vệ người tài, và có cơ chế nuôi dưỡng, phát triển, tôn vinh và trọng đãi người hiền tài, đồng thời có chế tài thưởng phạt nghiêm minh.
Tuy vậy, trong các triều đại phong kiến, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nên việc tuyển chọn hiền tài vẫn còn rất nhiều hạn chế. Tư tưởng trọng nam khinh nữ rất nặng nề, có lúc xuất phát từ tư tưởng cha truyền con nối, nên nhiều vị vua sợ người khác chiếm quyền, chính vì thế mà đố kỵ hiền tài. “Như một quy luật, ở giai đoạn suy vong của các triều đại phong kiến Việt Nam phổ biến rộng rãi nạn mua quan, bán tước, những kẻ có tiền của, nhưng bất tài thì được trọng dụng, bọn tham nhũng, sâu mọi, bọn nịnh thần lộng hành, làm cho nước nhà suy yếu, dân lầm than. Trong khi đó thì hiền tài, một phần bị sát hại (do can gián vua chúa hay bị vu oan giá họa) một phần cáo quan, quy ẩn, phần còn lại thì không được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, nên không phát huy được tài năng của mình để giúp ích cho đất nước” [10, tr.
Có thể khẳng định rằng nhân tài có mối quan hệ chặt chẽ với thịnh suy của dân tộc. Trong bất cứ giai đoạn nào, tìm kếm, phát huy nhân tài cũng được các triều đại phong kiến coi là vấn đề rường cột. Đây là dòng chảy được giữ gìn, tiếp thu và phát triển, nhằm phát huy hết vai trò của người tài đức. Quê hương Nam Đàn tỉnh Nghệ An của Hồ Chí Minh, cũng là mảnh đất nổi tiếng “đất sỏi có trạch vàng”, trọng đãi người tài đức, nhân tài.
Ở xã Chung Cự, trong đó có làng Sen và làng Chùa, bản Hương ước của xã quy định rõ việc cấp ruộng học điền cho những người trong làng đỗ đạt cao. Chính cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng đã được cấp theo tục lệ trên. Nhân dân Làng Sen lần đầu tiên vinh dự có người đỗ đại khoa, đã họp bàn quyết định xuất quỹ công của làng mua ngôi nhà gỗ 5 gian lợp tranh dựng trên mảnh đất công rộng 4 sào 14 thước Trung bộ ( khoảng 2500 m2 ) mừng ông phó bảng 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Sinh Sắc.