đặt vấn đề kết hợp khăng khít quyền tự quyết của các dân tộc với các quyền tự do, dân chủ của nhân dân; tức là kết hợp chặt chẽ quyền dân tộc và quyền con người. Đây cũng là lần đầu tiên một người Việt Nam yêu nước, nhân một Hội nghị quốc tế, đã dũng cảm đứng lên đoạt lại ngọn cờ về quyển dân tộc và quyền con người trong tay thực dân, đế quốc, biến những chiêu bài bịp bợm của chúng thành những yêu sách chính trị và pháp lý chính đáng, buộc chúng phải thực hiện những quyền dân tộc và dân chủ mà chúng đã rêu rao. Trên hành trình cứu nước, Người đã khảo sát mô hình nhà nước tư sản Mỹ, Pháp, "những cuộc cách mạng không đến nơi", vì ở đó, chính quyền vẫn ở trong tay một số ít người. Người đã phát hiện ra rằng, sau những lời hoa mỹ về "quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc" của Tuyên ngôn độc lập 1776, là sự bất bình đẳng, nghèo đói, nạn phân biệt chủng tộc và biết bao sự tàn bạo, bất công khác, nhất là đối với người da đen.
Người coi đó là: “Một cuộc cách mạng chưa đến nơi, vì cách mạng đã thành công hơn 150 năm nay mà công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mạng lần thứ hai” [18, tr. Sau khi đến Liên Xô, Người đã tìm hiểu một mô hình Nhà nước Xô viết, nhà nước đó: "Phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,. ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đổng" [18]. Mô hình nhà nước đó là một gợi ý cho Người về một kiểu nhà nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai.
Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Từ những nghiên cứu, khảo sát trên, Hồ Chí Minh từng bước hình thành và phát triển tư tường của mình về một mô hình nhà nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai. Năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt, lần đầu tiên Người nêu mục 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiêu "dựng ra chính quyền công nông binh" [18, tr. Ý tưởng này chỉ thấy Người đề cập đến có một lần. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), hoàn chỉnh sự chuyển hướng chi đạo chiến lược và sách lược, đề ra Chương trình Việt Minh, về vấn đề chính quyền, Hội nghị chủ trương: Không nên nói công nông liên hợp và lập chính quyền Xô viết, mà phải nói toàn thế nhân dân liên hiệp và lập chính phủ dân chủ cộng hoà [6, tr.
Chương trình Việt Minh cũng ghi rõ: Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc gia đại hội cử ra [10, tr. Khi thời cơ giải phóng dân tộc đã đến gần, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc (10-1944), Hồ Chí Minh cũng nói rõ: trước hết cần có một chính phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân, gồm tất cà các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cừ ra. "Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc ngoài thì giao thiệp với các hữu bang" [19, tr.
Như vậy, từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểu cho khối đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh được nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Sang năm 1945, phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng được mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng ngoại vi thuộc các tình Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái,. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh chi thị thành lập Khu giải phóng, cử ra ủy ban chỉ huy lâm thời, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng. Tại các địa phương trong Khu giải phóng, các ủy ban nhân dân cách mạng cũng được thành lập, do nhân dân cử ra, để thi hành 10 chính sách của Việt Minh.
Khu giải phóng là hình ảnh "nước Việt Nam mới phôi thai", "các ủy ban nhân dân cách mạng vừa lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tổng khởi nghĩa, vừa tập cho nhân dân cầm chính quyền" [3, tr.134] Tiếp theo, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã đi đến quyết định lịch sử: phát động tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, ra mắt Quốc dân Đại hội, làm chức năng của Chính phủ lâm thời ngay sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, trong gần 1/4 thế kỷ, trên cương vị là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam mới, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công đầu trong việc đặt nền móng xây dựng một nhà nước kiểu mới trong lịch sử dân tộc: Nhà nước của dân, do dân, vì dân, một nền móng cho nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tóm lại, tất cả những nghiên cứu, khảo sát cùng thực tiễn tổ chức, hoạt động của Hồ Chí Minh được nói đến ở trên là cơ sở góp phần hình thành nên tư tưởng của Người về nhà nước pháp quyền. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền 1.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hiến pháp, pháp luật Tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của nhà nước trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại. Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí Minh 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã đề cập đến vai trò của chúng trong điều hành và quản lý xã hội. Năm 1919, tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc- xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người. Bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành “Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó yêu cầu thứ bảy là: “Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” [17].
Đây là tư tưởng rất đặc sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới - Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý nhà nước của Người. Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là: Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Ngày 20/9/1945, Chủ tịch lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm trưởng ban.
Bản dự thảo Hiến pháp hoàn thành khẩn trương và nghiêm túc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch. Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I vào tháng 10/1946, Quốc hội đã thảo luận dân chủ và thông qua bản dự thảo Hiến pháp này. Đó là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam: Hiến pháp năm 1946. Trong phiên họp Quốc hội thông qua hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “… Hiến pháp đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”.
Và nhấn mạnh rằng: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng 3 chính sách: dân sinh, dân quyền và dân tộc” [13]. Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959. Trong tư duy Hồ Chí Minh, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật “gốc” - Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình. Ngoài hai bản Hiến pháp năm 1946, 1959, từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật, trong đó có 243 Sắc lệnh quy định về tổ chức nhà nước đã hình thành một thể chế bộ máy nhà nước có nhiều nhân tố cơ bản của một nhà nước pháp quyền.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế. Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý xã hội. Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Báo cáo tại hội nghị chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964, một trong 5 nhiệm vụ để hoàn thành sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên là “Tăng cường không ngừng chính quyền nhân dân.
Nghiêm chỉnh thực hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch. Triệt để chấp hành mọi chế độ và pháp luật của Nhà nước” [26, tr. Nét đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tổ chức nhà nước là các cơ quan nhà nước hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật nhưng trong điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến ở phương Đông, Hồ Chí Minh sử dụng linh hoạt pháp trị và đức trị trong tổ chức hoạt động của Nhà nước và quản lý nhà nước. Cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự công tâm và nghiêm minh.
Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ “gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.