Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và vận dụng trong công cuộc đổi mới

Người đăng

Ẩn danh
192
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khám phá tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế toàn diện

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế là một hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện, hình thành từ quá trình hoạt động cách mạng không mệt mỏi và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Đây không chỉ là di sản lý luận quý báu mà còn là kim chỉ nam cho đường lối đối ngoại của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt trong công cuộc Đổi mới hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức rằng, trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống toàn cầu, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không thể diễn ra đơn lẻ. Người khẳng định hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, là nhân tố quyết định thành công. Quan điểm này bắt nguồn từ sự phân tích khoa học về chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với thực tiễn cách mạng thế giới và Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo khẩu hiệu của Lênin: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại!”, biến nó thành cơ sở cho việc xây dựng các mối quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế. Theo Người, hợp tác quốc tế không chỉ nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc mà còn là nguồn lực quan trọng cho công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước sau chiến tranh. Việc nghiên cứu, làm sáng tỏ quan điểm của Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế giúp nhận diện rõ những giá trị nền tảng, từ đó vận dụng một cách sáng tạo, hiệu quả vào thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

1.1. Nền tảng hình thành quan điểm về hội nhập quốc tế

Quan điểm về hội nhập và hợp tác quốc tế của Hồ Chí Minh được hình thành từ rất sớm, ngay trên hành trình tìm đường cứu nước. Khi khảo sát thực tiễn tại các nước tư bản và thuộc địa, Người đã nhận ra bản chất của chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống toàn cầu, vừa cạnh tranh, vừa cấu kết để nô dịch các dân tộc yếu thế. Người viết: “các đế quốc chủ nghĩa liên lạc nhau, để đè nén các dân hèn yếu”. Từ nhận thức đó, Người kết luận rằng cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam phải là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới. Nền tảng lý luận quan trọng nhất chính là chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là luận điểm về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo luận điểm này, khẳng định đây là mối quan hệ bình đẳng, hỗ trợ lẫn nhau như “hai cánh của một con chim”. Người coi khối liên minh các dân tộc thuộc địa là một trong những sức mạnh to lớn của cách mạng vô sản. Chính vì vậy, Người đã tích cực hoạt động trong Quốc tế Cộng sản và sáng lập các tổ chức như Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa để hiện thực hóa tư tưởng đoàn kết, hợp tác này.

1.2. Vai trò tất yếu của hợp tác quốc tế trong cách mạng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hợp tác quốc tế đóng vai trò sống còn đối với sự nghiệp cách mạng. Một là, hợp tác quốc tế là nhân tố quyết định thành công của cách mạng giải phóng dân tộc. Người khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Hai là, hợp tác quốc tế giúp tăng cường tổng nguồn lực quốc gia trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người đã chủ trương mở cửa và hợp tác trên mọi lĩnh vực để “xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá”. Ba là, thông qua hợp tác, Việt Nam có thể tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, nâng cao trình độ và năng lực nội tại. Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế giúp củng cố môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đánh giá cao vai trò của ngoại lực, nhưng Người luôn nhấn mạnh nội lực là yếu tố quyết định, “tự lực cánh sinh là chính”. Sự giúp đỡ từ bên ngoài chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đất nước có đủ sức mạnh bên trong để tiếp nhận và sử dụng một cách khôn ngoan.

II. 5 Nguyên tắc vàng trong hợp tác quốc tế của Hồ Chí Minh

Để đảm bảo hợp tác quốc tế mang lại lợi ích thực sự cho quốc gia, dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt, vừa kiên định về mục tiêu chiến lược, vừa linh hoạt về sách lược. Những nguyên tắc này là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, giữa truyền thống ngoại giao hòa hiếu của dân tộc và tinh hoa của luật pháp quốc tế hiện đại. Cốt lõi của các nguyên tắc này là bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc một cách tối cao, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các đối tác. Trong bản Thông cáo về “Chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời” (3/10/1945), Người đã nêu rõ chủ trương hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tương ái. Nguyên tắc này không chỉ áp dụng với các nước đồng minh mà còn mở rộng ra cả những quốc gia từng có mâu thuẫn trong lịch sử, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng và tinh thần nhân văn sâu sắc. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế đã giúp Đảng và Nhà nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, giữ vững độc lập, chủ quyền và tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

2.1. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội làm nền tảng

Nguyên tắc bao trùm và quan trọng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, là cái “bất biến” để ứng phó với mọi “vạn biến” của tình hình quốc tế. Mọi hoạt động hợp tác quốc tế đều phải nhằm mục tiêu củng cố độc lập dân tộc và từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Độc lập, tự chủ không có nghĩa là biệt lập, đóng cửa. Ngược lại, chính vì có độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối, Việt Nam mới có thể chủ động trong hợp tác quốc tế, tự quyết định hợp tác với ai, hợp tác trên lĩnh vực nào và mức độ ra sao mà không chịu sức ép từ bên ngoài. Người luôn nhắc nhở rằng phải dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời phải tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của quốc tế. Sức mạnh bên trong luôn là yếu tố quyết định, nhưng sức mạnh đó sẽ được nhân lên gấp bội khi biết cách kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

2.2. Nguyên tắc bình đẳng tôn trọng chủ quyền và cùng có lợi

Hồ Chí Minh khẳng định, hợp tác quốc tế phải được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Đây là nguyên tắc nền tảng, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và thông lệ quốc tế. Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc (12/1946), Người nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. Sự hợp tác đó phải là sự hợp tác chân thành, sòng phẳng, hai bên cùng được hưởng lợi ích, không có sự áp đặt hay ban ơn. Ngay cả với Pháp, Người cũng tuyên bố: “Việt Nam cần nước Pháp. Nước Pháp cũng cần Việt Nam. Chỉ có lòng tin cậy lẫn nhau và sự cộng tác thật thà bình đẳng, thì mới đi đến kết quả thân thiện giữa hai nước”. Nguyên tắc này đảm bảo sự bền vững trong quan hệ hợp tác lâu dài, ngăn chặn nguy cơ bị lệ thuộc, trở thành “con bài trong tay của người khác”.

2.3. Giải quyết tranh chấp bằng hòa bình đối thoại

Tư tưởng hòa bình và hữu nghị luôn thường trực trong con người Hồ Chí Minh. Người chủ trương giải quyết mọi vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp thông qua đối thoại, đàm phán, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Ngay cả khi phải tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang để bảo vệ độc lập, Người vẫn luôn tìm kiếm mọi cơ hội hòa bình, coi chiến tranh là giải pháp cuối cùng. Trong lá thư gửi Tổng thống Mỹ Níchxơn (25/8/1969), Người khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hoà bình, một nền hoà bình chân chính trong độc lập và tự do thực sự”. Quan điểm này thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả và tầm nhìn chiến lược, bởi chỉ có hòa bình ổn định mới là môi trường lý tưởng cho sự phát triển. Chủ trương này ngày nay đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, là nền tảng cho chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam.

III. Phương pháp kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Một trong những cống hiến lý luận đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phương pháp luận về việc kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa sức mạnh nội tại của dân tộc và sức mạnh của thời đại. Đây là chìa khóa để một quốc gia còn nhiều khó khăn như Việt Nam có thể phát huy tối đa tiềm năng, tận dụng cơ hội từ bên ngoài để vươn lên. Sức mạnh dân tộc bao gồm chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, truyền thống văn hóa, nguồn lực con người và đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Sức mạnh thời đại là xu thế hòa bình, hợp tác, sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ và sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế, hai sức mạnh này có mối quan hệ biện chứng. Sức mạnh dân tộc là nền tảng, là gốc rễ. Có phát huy tốt nội lực thì mới có thể tiếp thu và sử dụng hiệu quả ngoại lực. Ngược lại, việc tranh thủ được sức mạnh thời đại sẽ tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi, giúp sức mạnh dân tộc được nhân lên. Phương pháp này đòi hỏi một tầm nhìn chiến lược, sự nhạy bén trong việc nhận định tình hình và sự khéo léo trong hành động để biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3.1. Phát huy nội lực Tự lực cánh sinh là chính

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố bên trong. Người chỉ rõ, muốn đất nước cường thịnh, phải dựa vào sức mình là chính. Người nhắc nhở: "Cũng như trong thời kỳ kháng chiến, phương châm của ta hiện nay là: tự lực cánh sinh là chính. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta". Phát huy nội lực có nghĩa là xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một quốc gia có nội lực mạnh mới có vị thế vững vàng trên trường quốc tế, mới có thể đàm phán bình đẳng và hợp tác hiệu quả. Sự chủ động xây dựng thực lực là cơ sở để nắm quyền chủ động trong quan hệ hợp tác. Như Người đã nói: "Nếu mình chưa có lực lượng làm cơ sở thì hãy khoan nói đến ngoại giao".

3.2. Tranh thủ ngoại lực Mở rộng quan hệ đa phương hóa đa dạng hóa

Trên cơ sở phát huy nội lực, Hồ Chí Minh chủ trương phải tích cực, chủ động mở rộng giao lưu và tăng cường hợp tác quốc tế để tranh thủ ngoại lực. Người sớm đề ra chính sách đối ngoại rộng mở, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ. Tư tưởng này chính là tiền đề cho đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới: đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việc mở rộng quan hệ với nhiều đối tác giúp Việt Nam tránh bị lệ thuộc vào một nguồn lực duy nhất, tạo ra sự cân bằng trong quan hệ quốc tế, đồng thời có thêm nhiều cơ hội để hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường. Tranh thủ ngoại lực không chỉ là nhận viện trợ, mà còn bao gồm việc học hỏi kinh nghiệm, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, nâng cao vị thế đất nước, và xây dựng hình ảnh Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế.

IV. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc Đổi mới

Bước vào công cuộc Đổi mới từ năm 1986, Việt Nam đối mặt với bối cảnh quốc tế và trong nước đầy thách thức. Cuộc khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, tình trạng bao vây cấm vận đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một tư duy đối ngoại mới. Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế một lần nữa tỏa sáng, trở thành cơ sở lý luận và phương pháp luận vững chắc cho Đảng ta hoạch định đường lối đối ngoại Đổi mới. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, Đảng đã đề ra chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được thể hiện rõ trong việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong việc mở rộng quan hệ, “thêm bạn bớt thù”. Chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới đã gặt hái được những thành tựu to lớn, phá vỡ thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển, và nâng cao đáng kể vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

4.1. Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Đường lối đối ngoại hiện nay của Đảng là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu cao nhất, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Đường lối này là sự vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm của Hồ Chí Minh về việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữ vững độc lập tự chủ để hội nhập thành công.

4.2. Thành tựu hội nhập kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài

Một trong những minh chứng rõ nét nhất cho sự vận dụng thành công tư tưởng Hồ Chí Minh là thành tựu trong hội nhập kinh tế quốc tế. Từ một nền kinh tế đóng cửa, Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế lớn như ASEAN, APEC, WTO và tham gia nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới. Chính sách mở cửa đã tạo ra một cú hích mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) đã trở thành một nguồn vốn quan trọng cho sự phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản lý hiện đại. Những thành tựu này là kết quả trực tiếp của việc thực thi chính sách đối ngoại rộng mở, hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4.3. Xây dựng nền ngoại giao cây tre Việt Nam vững chắc

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ mới bằng hình ảnh cây tre: “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Đây chính là sự đúc kết sâu sắc và hình tượng hóa nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. “Gốc vững” là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là lợi ích quốc gia - dân tộc. “Thân chắc” là sức mạnh đại đoàn kết, là nội lực cường thịnh. “Cành uyển chuyển” là sự mềm dẻo, khôn khéo trong sách lược, là nghệ thuật “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Nền ngoại giao cây tre Việt Nam thể hiện sự kiên định về nguyên tắc nhưng linh hoạt về phương pháp, ứng xử; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền. Đây là sự vận dụng xuất sắc tư tưởng Hồ Chí Minh để xử lý các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đặc biệt là với các nước lớn, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

V. Giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế

Trong bối cảnh thế giới đang có những biến động sâu sắc, phức tạp và khó lường, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là cơ hội lớn, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ. Tình hình đó càng làm nổi bật giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế. Những quan điểm của Người về độc lập tự chủ, về hòa bình, hữu nghị, về hợp tác bình đẳng cùng có lợi không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà vẫn còn nguyên giá trị chỉ dẫn cho hiện tại và tương lai. Đó là nền tảng lý luận vững chắc để Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại, xử lý hài hòa các mối quan hệ lợi ích đan xen, vượt qua thách thức để nắm bắt cơ hội phát triển. Tư tưởng của Người là di sản vô giá, là ngọn đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung của nhân loại. Việc tiếp tục nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà cách mạng Việt Nam đã đề ra trong giai đoạn mới.

5.1. Kim chỉ nam cho công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế là kim chỉ nam cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo Người, muốn xây dựng đất nước, cần mở rộng hợp tác để thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nước tiên tiến. Tinh thần này định hướng cho Việt Nam phải chủ động và tích cực hội nhập, tận dụng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đi tắt, đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển. Tuy nhiên, quá trình hội nhập này phải dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, tiếp thu có chọn lọc, tránh lệ thuộc vào bên ngoài. Việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tư tưởng của Người chính là con đường tối ưu để Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng một nền kinh tế tự chủ, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng.

5.2. Bài học bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc trong toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt là nguy cơ xâm phạm chủ quyền và lợi ích quốc gia. Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết là bài học sâu sắc và luôn thời sự. Nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” dạy rằng, trong mọi cuộc đàm phán, hợp tác, phải luôn kiên định mục tiêu chiến lược là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo về sách lược để đạt được lợi ích tối đa. Bài học về bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc từ tư tưởng của Người đòi hỏi phải có sự tỉnh táo, bản lĩnh, trí tuệ trong việc nhận diện đối tác, đối tượng; xử lý khéo léo các mối quan hệ, đặc biệt là với các nước lớn, để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của đất nước.

25/07/2025
Tư tưởng hồ chí minh về hợp tác quốc tế và vận dụng trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay