MỞ ĐẦU Hợp tác quốc tế là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Thông qua hợp tác quốc tế, các quốc gia phát huy được những tiểm năng do điều kiện địa - kinh tế, địa - chính trị mang lại. Đồng thời, tận dụng được thế mạnh của các khu vực, quốc gia khác phục vụ cho sự phát triển của mình và thúc đẩy giao lưu quốc tế. Do vậy, có thể nói, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, khu vực phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tham gia hợp tác cả về bề rộng lẫn chiều sâu với những quốc gia, khu vực trên thế giới.
Là một người cộng sản, Hồ Chí Minh không chỉ thấy tầm quan trọng của yếu tố đoàn kết quốc tế mà Người còn sớm nhận rõ vai trò của hợp tác quốc tế đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong xây dựng và kiến thiết đất nước. Điều đó được Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong các tuyên bố, lời phát biểu và các hoạt động quốc tế của Người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, rõ nhất là từ năm 7 1945 đến khi Người qua đời. Tư tưởng về hợp tác quốc tế của Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi chủ trương, đường lối và chính sách hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, tạo nên sức mạnh tổng hợp và trở thành nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong những năm qua. Hiện nay, trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được đẩy nhanh, đồng thời cạnh tranh kinh tế thương mại diễn ra ngày càng gay gắt. Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về lãnh thổ và các tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh giữa chủ nghĩa đơn phương, đơn cực và bá quyền với các lực lượng chống lại vẫn diễn biến phức tạp. Đồng thời, nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc ngày càng đòi hỏi các quốc gia phải phối hợp giải quyết như khoảng cách ngày càng lớn giữa các nhóm nước giàu và nghèo; vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái; sự gia tăng dân số, các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu trái đất; phòng chống các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia, v. Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng.
Quan hệ nhiều mặt giữa các nước trong khu vực tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, 8 tại đây vẫn còn tiểm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như tranh chấp biên giới lãnh thổ, tài nguyên, những hoạt động khủng bố, những bất ổn về kinh tế, chính trị ở một số nước. Tình hình thế giới vàà khu vực nói trên tác động trực tiếp đến nước ta, vừa tạo ra những thuận lợi vừa làm nảy sinh những khó khăn, thách thức mới. Sau hơn 20 năm đổi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, nhưng những khó khăn, thách thức do diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, đặc biệt mặt trái của toàn cầu hoá đã và đang là lực cản không nhỏ đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam.
Nhu cầu bức thiết của nước ta hiện nay là làm thế nào tận dụng được những nhân tố thuận lợi để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Muốn vậy, chúng ta cần phải tăng cường và mở rộng hơn nữa hội nhập và hợp tác quốc tế, tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần vào thực hiện mục tiêu chung của nhân loại: Độc lập dân tộc, hoà bình, hữu nghị, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu 7 ¿ưởng Hồ Chí Minh uề hợp tác quốc tế va van dụng trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay là việc làm không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn thiết thực. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế không chỉ làm sáng tỏ thêm một vấn đề lý luận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn làm rõ những cống hiến của Người đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nói riêng.
Đồng thời, việc nghiên cứu, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế sẽ giúp chúng ta vận dụng sáng tạo vào việc giải quyết những vấn để phức tạp của công tác đối ngoại, đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế, góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá 6 nước ta hiện nay. Vấn đề hợp tác quốc tế bao gồm nhiều lĩnh vực như: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học - kỹ thuật., trong khuôn khổ cuốn sách này chúng tôi đề cập tới các lĩnh vực chủ yếu, đó là hop tac quốc tế uề hình tế, uăn hóa, bhoa học - bỹ thuật. Do phạm vì nghiên cứu rộng nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong sự góp ý của các đồng nghiệp và độc giả để nội dung cuốn sách được hoàn thiện hơn.
CÁC TÁC GIÁ 10 Chuong | TU TUGNG HO CHi MINH VE HOP TAC QUOC TE I- TƯ TƯỞNG VỀ VAI TRÒ CỦA HỢP TÁC QUỐC TẾ Hợp tác quốc tế là mối quan hệ qua lại giữa các quốc gia bao gồm nhiều lĩnh uực, các công uiệc, những uấn đề cụ thể, được tiến hành theo những nguyên tắc đã thống nhất trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau, đồng thuận vé mục đích uà lợi ích. Hợp tác quốc tế là một xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển lịch sử loài người. Xu hướng đó sẽ ngày càng phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Xuất phát từ sự phát triển không đều giữa các quốc gia, có nước phát triển nhanh và đạt tới trình độ tiên tiến, có nước phát triển chậm hoặc đang ở trình độ lạc hậu nên đồi hỏi phải có sự hợp tác.
Hợp tác quốc tế còn bởi điều kiện tự nhiên. Đó là do sự khác biệt khí hậu chi phối và tác động đến đời sống và sản xuất; sự phân bố về tài nguyên chi phối việc cung ứng nguyên liệu, nhiên liệu. 11 Như vậy, yêu cầu khách quan của việc hợp tác quốc tế trước hết xuất phát từ nhu cầu của sự phân công lao động, sự cung ứng nguyên liệu, nhiên liệu và trao đổi hàng hoá nói chung, bên cạnh đó là yêu cầu của việc phải trao đổi, kế thừa những thành tựu khoa học - kỹ thuật, văn hoá, văn minh. Lich sử phát triển loài người cho thấy, không phải đến thời kỳ hiện đại, sự hợp tác mới hình thành và phát triển mà trước đó rất lâu, khi loài người ở thời kỳ sơ sử, việc hợp tác, trao đổi đã manh nha.
Đó là sự phân công lao động tự nhiên khi nền kinh tế mới chỉ là hái lượm và săn bắt, sau đó là giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Xã hội loài người phát triển cao hơn đòi hỏi sự phân công lao động và hợp tác mang tính xã hội rộng hơn, hình thành các bộ tộc, các quốc gia. Có bộ tộc, quốc gia với điều kiện thiên nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp thì nông nghiệp trở thành chủ: đạo trong nền kinh tế. Điều này thể hiện rất rõ trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa.
Quốc gia có điều kiện và tiềm năng trì thức khoa học - kỹ thuật thì phát triển công nghiệp và công nghiệp trở thành chủ đạo.Lênin đã nhận xét: Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã vượt giới hạn của nền kinh tế làng xã, của các chợ địa phương, của từng vùng, rồi nó vượt giới hạn của từng quốc gia. Yêu cầu của việc giao lưu và trao đổi hàng hoá đã xoá bỏ tình trạng cô lập và đóng cửa giữa các quốc 12 gia, thúc đẩy việc đi tìm thị trường ngoài biên giới, tìm - nơi cung cấp nguyên liệu, tìm thị trường tiêu thụ hàng hoá. Thực chất của tình hình này là vừa phát huy lợi thé tiém nang cua chủ nghĩa tư bản, vừa khai thác tiềm năng, thế mạnh của các quốc gia khác. Sự hợp tác này có thể thực hiện bằng các hình thức huy động vốn, phương tiện máy móc kỹ thuật, khoa học và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý, đào tạo chuyên gia, cung ứng nguyên liệu và hàng hoá tiêu dùng.
Khi xã hội còn tồn tại các ý thức hệ tư tưởng khác nhau, đối lập nhau thì vấn đề hợp tác quốc tế không thể không bị chi phối bởi ý thức hệ tư tưởng. Thực tiễn ấy đòi hỏi giới lãnh đạo các nước phải có nhãn quan chính trị sáng suốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, nguyên tắc kiên định, phương pháp phù hợp trong quá trình đề ra đường lối chiến lược, sách lược hợp tác quốc tế. Theo tiến trình lịch sử, nhiều tổ chức hợp tác quốc tế song phương hoặc đa phương, bao hàm cả hợp tác chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội đã hình thành, như: Liên hợp quốc (UN) và các tổ chức trực thuộc; Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO); Hội đồng tương trợ kinh tế (COMBECON - SEV) cua các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các tổ chức trực thuộc; Liên hiệp châu Âu (EU); Thị trường chung Nam Mỹ (MECOSUR); Hiệp định buôn bán tự do Bắc Mỹ (NAFTA); Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC); Liên đoàn các nước 13 A rập (AL); Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS); Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU); Tổ chức thương mại thế giới (WTO); Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM); Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển và Nga (G.8); Nhóm các nước đang phát triển (G.77); Phong trào không liên kết (NAM); Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC).