Luận án Tiến sĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh và công bằng xã hội tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tư tưởng hồ chí minh về công bằng xã hội, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ Chính trị học

2019

171
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

0.2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Ý nghĩa của luận án

0.7. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu lý luận chung về công bằng xã hội và cơ sở lý luận, thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội

1.2. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CÔNG BẰNG XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH

2.1. Một số quan điểm về công bằng xã hội trong lịch sử tư tưởng

2.2. Quan niệm ngoài mác xít về công bằng xã hội

2.3. Quan điểm mác xít về công bằng xã hội

2.4. Khái niệm và đặc trưng của công bằng xã hội

2.5. Cơ sở hình thành và khái niệm “công bằng xã hội” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

2.6. Khái niệm “công bằng xã hội” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

3.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của công bằng xã hội trong sự nghiệp cách mạng

3.2. Công bằng xã hội là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng

3.3. Công bằng xã hội là động lực của sự nghiệp cách mạng

3.4. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung thực hiện công bằng xã hội trên một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội

3.4.1. Công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế

3.4.2. Công bằng xã hội trên lĩnh vực chính trị

3.4.3. Công bằng xã hội trên lĩnh vực văn hóa, xã hội

3.5. Quan điểm của Hồ Chí Minh về điều kiện thực hiện công bằng xã hội

3.5.1. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là điều kiện tiên quyết để thực hiện công bằng xã hội

3.5.2. Tăng trưởng kinh tế là cơ sở cho việc thực hiện công bằng xã hội

3.5.3. Nhà nước vững mạnh là điều kiện bảo đảm cho thực hiện công bằng xã hội

3.5.4. Pháp luật là điều kiện đảm bảo cho công bằng xã hội được thực hiện nghiêm minh

3.5.5. Dân trí là điều kiện cơ bản để thực hiện công bằng xã hội

3.6. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

4.1. Giá trị trong xác lập vị trí, vai trò của công bằng xã hội đối với sự nghiệp cách mạng

4.2. Giá trị trong xác định công bằng xã hội là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng

4.3. Giá trị trong xác định công bằng xã hội là động lực của sự nghiệp cách mạng

4.4. Giá trị trong xác định nội dung thực hiện công bằng xã hội trên một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội

4.4.1. Giá trị trong xác định nội dung thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế

4.4.2. Giá trị trong xác định nội dung thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực chính trị

4.4.3. Giá trị trong xác định nội dung thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực văn hóa - xã hội

4.5. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tạo lập các điều kiện thực hiện công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay

4.5.1. Công bằng xã hội phải trở thành mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước

4.5.2. Gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội

4.5.3. Công bằng xã hội phải được thể chế hóa thành luật pháp

4.5.4. Phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh

4.5.5. Nâng cao nhận thức của Nhân dân về dân chủ và công bằng xã hội

4.6. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội là một hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện và độc đáo, được hình thành từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với truyền thống văn hóa dân tộc và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người coi công bằng xã hội theo Hồ Chí Minh không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Tư tưởng này bao quát nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, nhấn mạnh sự tương xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng để giải quyết các vấn đề bất cập về công bằng xã hội hiện nay.

1.1. Khái quát về công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, công bằng xã hội là sự phân phối công bằng dựa trên nguyên tắc làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Người nhấn mạnh rằng công bằng không phải là sự cào bằng mà là sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ. Đây là nguyên tắc phù hợp với điều kiện nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt khi đất nước còn nhiều khó khăn về kinh tế. Công bằng xã hội còn bao gồm sự quan tâm đặc biệt đến những người già yếu, tàn tật, không may mắn trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc.

1.2. Vai trò và ý nghĩa của công bằng xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh xác định công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự nghiệp cách mạng, là nền tảng để xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa. Công bằng xã hội giúp tạo động lực cho người lao động phát huy sức lực, tài năng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Người cũng nhấn mạnh rằng công bằng xã hội phải được thể chế hóa thành luật pháp, chính sách của nhà nước và được thực hiện nghiêm minh để đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội.

II. Phân tích các vấn đề thách thức trong công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong quá trình phát triển đất nước, nhiều thách thức về công bằng xã hội theo Hồ Chí Minh đã và đang đặt ra. Những vấn đề như khoảng cách giàu nghèo gia tăng, sự chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục giữa các vùng miền, tỷ lệ thất nghiệp cao, và sự bất cập trong thực thi chính sách công bằng xã hội là những thách thức lớn. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, để thực hiện công bằng xã hội hiệu quả, cần phải có sự thống nhất trong nhận thức và đồng bộ trong các giải pháp thực tiễn.

2.1. Thách thức về bất bình đẳng trong phân phối và cơ hội phát triển

Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và cơ hội phát triển là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng công bằng xã hội không phải là sự bình quân cào bằng mà là sự phân phối theo lao động và cống hiến. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, nhiều người lao động giản đơn có thu nhập thấp hơn so với những người làm việc trong các lĩnh vực khác, dẫn đến sự bất công cần được khắc phục.

2.2. Vấn đề thực thi pháp luật và chính sách công bằng xã hội

Hồ Chí Minh coi pháp luật là công cụ quan trọng để đảm bảo công bằng xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, việc thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế như tham nhũng, quan liêu, thiếu minh bạch đã làm giảm hiệu quả của các chính sách công bằng xã hội. Điều này đòi hỏi phải xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh và nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức trong việc thực hiện công bằng xã hội.

III. Hướng dẫn phương pháp xây dựng công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng công bằng xã hội đưa ra nhiều phương pháp và giải pháp thiết thực nhằm thực hiện công bằng xã hội một cách hiệu quả. Các phương pháp này bao gồm việc phát triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền, nâng cao dân trí và phát huy dân chủ, cũng như thực hiện các chính sách an sinh xã hội phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.

3.1. Phương pháp phát triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế là cơ sở để thực hiện công bằng xã hội. Việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc phân phối công bằng, đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội hưởng thụ thành quả phát triển. Người cũng chỉ ra rằng không nên hy sinh công bằng xã hội để phát triển kinh tế mà phải thực hiện đồng thời hai mục tiêu này.

3.2. Giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền và nâng cao dân trí

Xây dựng nhà nước pháp quyền trong sạch, vững mạnh là điều kiện bảo đảm cho công bằng xã hội được thực hiện nghiêm minh. Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh vai trò của dân trí trong việc thực hiện công bằng xã hội, bởi chỉ khi người dân có nhận thức đúng đắn về quyền và nghĩa vụ của mình thì công bằng xã hội mới được duy trì và phát triển bền vững.

3.3. Phương pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội toàn diện

Chính sách an sinh xã hội là công cụ quan trọng để bảo đảm công bằng xã hội, đặc biệt là đối với các nhóm yếu thế như người già, người tàn tật, người nghèo. Hồ Chí Minh đề cao việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong thực tiễn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sau hơn ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt trong phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng các chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc như chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ xã hội, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các giải pháp thực hiện công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

4.1. Thành tựu trong thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thực hiện công bằng xã hội như tăng trưởng kinh tế ổn định, cải cách chế độ tiền lương phù hợp với đóng góp của người lao động, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội cho đông đảo nhân dân. Các chính sách hỗ trợ người nghèo, người tàn tật, gia đình chính sách cũng được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

4.2. Những hạn chế và thách thức trong thực hiện công bằng xã hội hiện nay

Bên cạnh những thành tựu, việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế như khoảng cách giàu nghèo gia tăng, sự chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục giữa các vùng miền, tỷ lệ thất nghiệp cao và tình trạng tham nhũng, quan liêu làm giảm hiệu quả các chính sách công bằng xã hội. Những vấn đề này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, hiệu quả hơn dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh.

V. Kết luận và triển vọng phát triển công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội vẫn giữ nguyên giá trị và tính thời sự trong bối cảnh phát triển hiện nay. Việc vận dụng sáng tạo và đồng bộ các quan điểm của Người sẽ góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Triển vọng phát triển công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi sự nỗ lực của toàn xã hội, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước, cùng với sự tham gia tích cực của nhân dân.

5.1. Tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội giúp định hướng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Nó góp phần giải quyết các vấn đề bất cập hiện nay, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo sự đồng thuận xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững và ổn định của đất nước.

5.2. Định hướng phát triển công bằng xã hội trong tương lai theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Định hướng phát triển công bằng xã hội trong tương lai cần tập trung vào việc hoàn thiện thể chế pháp luật, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội, tăng cường vai trò của nhà nước và phát huy dân chủ xã hội. Đồng thời, cần chú trọng chăm lo các nhóm yếu thế, đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội phát triển toàn diện, góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh, hạnh phúc.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề và gợi ý nhiều hơn là xác định và hệ thống những luận điểm của Người thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh. Có thể kể đến một loạt các công trình như: Phạm Xuân Nam, Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội trong phát triển [109]; Phạm Ngọc Anh, Triết lý phát triển Hồ Chí Minh - giá trị lý luận và thực tiễn [2]; Lê Sỹ Thắng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người và chính sách xã hội [142]; Nguyễn Đình Hòa, Hồ Chí Minh với vấn đề dân sinh [56]; Trần Văn Bính, Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa [7] v. Qua các nghiên cứu, có thể thấy, di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho Đảng và Nhân 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân Việt Nam, những nội dung về CBXH và thực hiện CBXH mặc dù không có dung lượng lớn nhưng ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, CBXH được hiểu khá toàn diện và sâu sắc, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với tư duy biện chứng độc đáo.

Về vai trò của của CBXH, các nhà nghiên cứu Việt Nam cơ bản thống nhất ở nhận định: trong tư tưởng Hồ Chí Minh, CBXH có vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của con người và xã hội. CBXH không chỉ là mục tiêu của CNXH mà còn là một động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển, là một yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng CNXH, nhất là trong điều kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Lựa chọn con đường đi lên CNXH, Hồ Chí Minh sớm vạch ra bản chất nhân văn, ưu việt của chế độ này. Đặc biệt, tính ưu việt của CNXH thể hiện rõ nét nhất ở mục tiêu hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, xóa bỏ áp bức bất công, mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội.

Trong mọi hoàn cảnh, Hồ Chí Minh luôn nhất quán coi CBXH là mục tiêu, đồng thời, là động lực của quá trình xây dựng CNXH. Thực hiện CBXH tạo động lực to lớn thúc đẩy mọi người tích cực lao động để tạo nên sự giàu có của bản thân họ và toàn xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng xã hội mới tốt đẹp - XHCN, trong đó mọi người được tự do, có điều kiện phát triển khả năng của mình; có điều kiện cống hiến và được hưởng thành quả tương xứng với sự cống hiến đó. Tác giả Phùng Thanh Thủy trong bài viết Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [145] khẳng định: Theo Hồ Chí Minh, CBXH là một mục tiêu xây dựng chế độ XHCN, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân, làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm. Để đảm bảo CBXH đòi hỏi tất cả những người lao động ngày nay đều phải nhận mình là người làm chủ nước nhà và đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ đó là cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH.

Theo Hồ Chí Minh, CBXH còn có ý nghĩa là động lực để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Thực hiện CBXH sẽ kích 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thích người lao động phát huy mọi khả năng, sức lực của mình trong xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn mình - một xã hội mà ở đó khi mọi người phát huy hết khả năng của mình sẽ được đáp ứng nhu cầu “ai cần dùng gì có nấy”. Thống nhất với nhận định trên, tác giả Trần Thị Thu Hoài trong bài viết Chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh - một xã hội cho con người, vì con người [51] cho rằng: mục đích của CNXH theo quan điểm của Hồ Chí Minh là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của Nhân dân, trong đó, đời sống tinh thần ở mức độ cao là sự công bằng, bình đẳng, cao hơn nữa thước đo giá trị đời sống tinh thần là trạng thái dân chủ của xã hội đó. Ngoài ra, tác giả cũng phân tích động lực của CNXH theo quan điểm Hồ Chí Minh, nhấn mạnh tới động lực con người và muốn phát huy động lực đó phải tạo ra môi trường công bằng, bình đẳng.

Nhấn mạnh vai trò của CBXH, tác giả Nguyễn Minh Hoàn trong bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng và bình đẳng xã hội [52] chỉ rõ: trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, CBXH không chỉ biểu hiện như là mục tiêu của CNXH, mà còn là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, một biện pháp căn bản để hiện thực hoá những giá trị, lý tưởng cao cả của CNXH. Luận giải về vấn đề này, tác giả chỉ ra rằng trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta đang chuyển sang thực hiện nền kinh tế thị trường, một số nhà nghiên cứu lại đưa ra ý kiến cho rằng, CBXH chỉ có thể thực hiện được khi đã có sự phát triển của kinh tế, hoặc khẳng định rằng, khi chưa có nền kinh tế phát triển mà thực hiện CBXH thì có thể dẫn đến chủ nghĩa bình quân cào bằng. Theo tác giả, vấn đề không hẳn là như vậy. Một nước nghèo, có nền kinh tế kém phát triển không đồng nghĩa với việc không thể thực hiện CBXH.

Đối với Hồ Chí Minh, việc thực hiện CBXH là một yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng CNXH, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế còn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội. Theo quan điểm của Người, ngay cả khi không thiếu vật tư, hàng hoá nhưng lại phân phối không đúng, thì vẫn có thể gây ra những căng thẳng không cần thiết. Bởi vậy, phương châm chỉ đạo của Hồ Chí Minh trong công tác lưu thông phân phối là: không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể thấy, những luận giải của tác giả về vai trò của CBXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rõ ràng, xác đáng.

Theo đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài ý nghĩa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng CNXH, công bằng và BĐXH còn mang ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Việc thực hiện công bằng và BĐXH kích thích mọi người, theo khả năng, sức lực của mình, cùng tham gia xây dựng một cuộc sống mới, từng bước vươn tới xã hội cộng sản - một xã hội trong đó “Mọi người làm hết tài năng; ai cần dùng gì có nấy”. Các nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trên một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Các nhà nghiên cứu Việt Nam cơ bản thống nhất ở nhận định: tư tưởng về CBXH được Hồ Chí Minh thể hiện một cách sinh động, linh hoạt trong những hoàn cảnh và tình huống cụ thể khác nhau của quá trình xây dựng đất nước, được bàn đến khá toàn diện trên một số lĩnh vực cơ bản: kinh tế, chính trị, văn hóa của đời sống xã hội. Trên lĩnh vực kinh tế, nhấn mạnh quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hiện CBXH thông qua phân phối, trong nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, các tác giả đều khẳng định luận điểm của Hồ Chí Minh: CBXH phải được thực hiện dựa trên nguyên tắc phân phối làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng.

Tuy nhiên, đó không phải là sự cào bằng. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, thực hiện CBXH với nguyên tắc ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, đặc biệt trong hoàn cảnh của nước nhà còn nhiều khó khăn về kinh tế, cũng không có nghĩa là có thể làm cho đời sống của Nhân dân có ngay được sự no đủ. Đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện CBXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Minh Hoàn trong bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng và bình đẳng xã hội [52] khẳng định: Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, thực hiện CBXH với nguyên tắc ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, đặc biệt trong hoàn cảnh của nước nhà còn nhiều khó khăn về kinh tế, cũng không có nghĩa là có thể làm cho đời sống của Nhân dân có ngay 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được sự no đủ. Do đó, không được coi việc thực hiện CBXH như là một sự cào bằng trong nghèo khổ.

Để vượt qua hoàn cảnh còn nhiều khó khăn về kinh tế, Hồ Chí Minh đã kêu gọi Nhân dân phát huy tinh thần đồng cam cộng khổ, đùm bọc, tương thân tương ái, đoàn kết, hợp tác vì mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mặc dù cho rằng, sự chia sẻ, đồng cam cộng khổ là một điều rất hay, rất tốt, nhất là trong hoàn cảnh còn thiếu thốn trăm bề, song Hồ Chí Minh vẫn giữ quan điểm nhất quán về công bằng và BĐXH; kiên quyết chống lại sự đồng nhất tinh thần đồng cam cộng khổ với chủ nghĩa bình quân. Tác giả đi đến kết luận: Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, công bằng và bình đẳng là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới. Nó không phải là chủ nghĩa bình quân cào bằng trong sự nghèo khổ.

Mục tiêu của chế độ xã hội mới là không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân, là phấn đấu: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm” [97, tr. Cũng nhấn mạnh nguyên tắc này, tác giả Phạm Ngọc Anh trong cuốn Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế [3] khẳng định: Tính biện chứng của vấn đề là ở chỗ tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện CBXH chứ không chờ phát triển kinh tế rồi mới thực hiện CBXH, hy sinh CBXH đề phát triển kinh tế.

Đây là hai quá trình đồng hành và cần thiết phải thực hiện công bằng ngay trong bản thân sự phát triển kinh tế; tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện CBXH và CBXH để phát triển kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ