đặt vấn đề khôi phục 16 và ổn định trật tự xã hội trong mối quan hệ với đạo đức. Hệ thống những phạm trù, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức của Nho gia vừa phản ánh các mối quan hệ đạo đức vừa phản các quan hệ chính trị của xã hội và con người. Đạo đức là phương tiện, công cụ để giai cấp thống trị quản lý xã hội, để hoàn thiện đạo đức của con người góp phần củng cố duy trì trật tự xã hội và tạo ra mẫu người lý tưởng để góp phần tạo ra xã hội lý tưởng. Khổng Tử đề xuất học thuyết chính danh nhằm phát huy trách nhiệm, vị trí vai trò ở mỗi người.
Chính danh là điều căn bản của việc làm chính trị, đưa xã hội từ “loạn” thành “trị” và điều kiện để thực hiện, trau dồi nhân và lễ. Có thể nói rằng, quan điểm trung thứ, nhân – lễ – chính danh là vấn đề cốt lõi nhất chi phối toàn bộ những quan điểm về luân lý đạo đức cũng như chính trị xã hội, là cơ sở của đường lối đức trị, tạo nên bản sắc riêng trong triết lý chính trị – đạo đức của Khổng Tử. Mạnh Tử chủ trương “nhân chính”, “dân bản”, ông kịch liệt phê phán các nước dùng bạo lực thôn tính lẫn nhau. Ông khuyên các bậc vua chúa phải vì nhân nghĩa chứ không nên vì lợi.
“Phải xem dân là gốc của một nước, có dân mới có nước, có nước mới có vua. Ý dân là ý trời. Vì vậy hễ ai được lòng dân chúng thì được làm vua thiên hạ.” [12,60] Tuân Tử với quan niệm về “tính ác”, ông cho rằng bản tính con người là ham lợi do đó dẫn đến tranh giành nhau mà gây ra tội ác. Vì vậy, thánh nhân mới chế định thành ra lễ để uốn nắn bản tính của con người thành ra thiện.
Do quan niệm như vậy nên Tuân Tử rất coi trọng lễ và xem việc thực thi lễ là một yêu cầu có tính bắt buộc để xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, thái bình, thịnh trị. Mặc dù đề cao lễ song Tuân Tử coi trọng cả chính hình (pháp luật). Ông đòi hỏi người cầm quyền dùng hình pháp thì thưởng, phạt phải công minh, tức phạt không quá cái tội, ban thưởng tước lộc không vượt quá cái đức. 17 Thứ hai, Nho gia thời Tiên Tần chứa đựng nhiều giá trị mang tính nhân văn sâu sắc.
Các đại biểu Nho gia rất quan tâm đến con người, đề cao cao tư tưởng nhân nghĩa, tình yêu thương đối với con người. Học thuyết về Tính thiện dù còn mang nặng màu sắc duy tâm song cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều muốn khơi dậy phần nhân tính con người, đẩy lùi và diệt trừ cái xấu, cổ vũ cho cái thiện, lên án cái ác để xây dựng mối quan hệ hài hòa, tốt đẹp giữa người với người. Trong đường lối “đức trị” của Khổng Tử , chủ trương “nhân chính”, “dân bản” của Mạnh Tử mặc dù còn tính chất ảo tưởng trong một xã hội có sự phân chia giai cấp song nó cũng chứa đựng giá trị nhân bản, nhân văn rất đáng trân trọng với mục tiêu cao cả là hướng tới con người và vì con người. Mặt khác, trong những quan điểm của mình, Nho gia luôn đề cao vị trí, vai trò của mỗi người trong mối quan hệ với xã hội.
Có thể nói, con người trong quan điểm của Nho gia không phải là con người chung chung mà là con người cụ thể có ý thức, trách nhiệm, có lương tâm, am hiểu nhân, nghĩa, lễ, trí tín. Điều này có thể thấy rõ trong quan điểm về “ngũ luân”, các đại biểu Nho gia đã khéo lồng ghép các mối quan hệ xã hội thông qua những chuẩn mực đạo đức như trung, hiếu, nghĩa, tín… nhằm phát huy vị trí, vai trò và sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Thứ ba, tư tưởng Nho gia thời Tiên Tần đang nỗ lực thoát khỏi ảnh hưởng của thế giới quan thần quyền thời nhà Hạ, nhà Thương và giai đoạn đầu nhà Chu nên các yếu tố tôn giáo, thần bí ít nhiều cũng phai nhạt hơn so với thời đại trước đó. Mặc dù ít nhiều có đề cập đến vấn đề bản thể, nhận thức, quỷ thần nhưng đó không phải là vấn đề trọng tâm trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử.
Khổng Tử chỉ chú trọng giải quyết mối quan hệ giữa người với người trên bình diện đạo đức – chính trị. Trong học thuyết Thiên mệnh, Khổng Tử thừa 18 nhận có trời đất, quỷ thần là lực lượng siêu nhiên có ảnh hưởng đến thế giới con người. Tuy nhiên, trong tư tưởng của ông, ông cho rằng trời đất, quỷ thần đó là việc cao xa không nên bàn. Con người nên kính trọng quỷ thần nhưng không nên gần gũi làm gì.
Mục tiêu mà Khổng Tử hướng đến đó là giải quyết những vấn đề tồn tại của đời sống trần tực nhằm xây dựng một xã hội thái bình, vua sáng, tôi hiền, cha con, anh em hòa thuận. Do đó, trong quan điểm của mình, Nho gia không chỉ chủ trương đào tạo những con người truyền đạo mà còn biết hành đạo. Vì vậy, trong quan điểm mẫu người lý tưởng, Nho gia xác định con đường mà người quân tử phải theo là tu thân, tề gia để giúp đời trị quốc, bình thiên hạ. Khác với quan điểm Khổng Tử và Mạnh Tử, đôi khi còn lấy tư tưởng Thiên mệnh và đạo đức truyền thống nhà Chu làm giá đỡ trong việc thực hiện đường lối của mình, triết học Tuân Tử đã thể hiện quan điểm duy vật về tự nhiên và đề cao vai trò nhân tố chủ quan của con người.
Ông cho rằng xã hội loạn hay trị, thịnh hay suy đều do con người chứ không phải trời định. Tuân Tử cho rằng trời không phải là vị chúa tể tối cao có nhân cách mà chỉ là quy luật khách quan vốn có của tự nhiên. Vai trò của con người là nhận thức và vận dụng quy luật của tự nhiên để cải tạo phục vụ cho cuộc sống con người. Như vậy, với sự khởi xướng của Khổng Tử, sự bổ sung và phát triển của Mạnh Tử và Tuân Tử, tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần có giá trị rất lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong chủ trương ổn định trật tự xã hội và giáo dục đạo đức con người.
Thực tế cho thấy các nhà tư tưởng đời sau thông qua sự “chú giải” mà có thể thu hẹp hoặc mở rộng những nội dung đạo đức của Nho gia thời Tiên Tần nhưng vẫn trên danh nghĩa bảo vệ và phát triển nó. 19 Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIA THỜI TIÊN TẦN - GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tác động lớn đến chính trị, xã hội nhà Chu và làm thay đổi nhận thức con người. Các nước chư hầu và những người dân khốn khó dường như không còn niềm tin vào sự trị vì của nhà Chu, họ quay lưng với những giá trị đạo đức truyền thống. Tình trạng trên đã tạo nên sự bất ổn về chính trị, xã hội đẩy nhà Chu vào bờ diệt vong.
Trước bổi cảnh đó, Nho gia chủ trương dùng đường lối đức trị, dùng đạo đức để giáo hóa, ổn định trật tự xã hội, nhằm cứu vãn nhà Chu khỏi rơi vào thế diệt vong. Nội dung tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần chủ yếu được thể hiện qua các nội dung: Quan niệm về tam cương, ngũ thường, quan niệm về mẫu người quân Tử và quan niệm về giáo dục. Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần 2. Tam cương, Ngũ thường Quan điểm của Nho gia về tam cương và ngũ thường là một trong những nội dung cơ bản trong chủ trương xác lập lại trât tự xã hội của Nho gia.
Nho gia đã đưa ra những tiêu chí đạo đức cơ bản trong mối quan hệ giữa người với người trong xã hội và với chính bản thân mình nhằm góp phần xây dựng những phẩm chất đạo đức cần thiết mà con người cần có để tạo ra sự ổn định về chinh trị – xã hội lúc bấy giờ. Quan điểm về Tam cương Trong các quan hệ xã hội Nho gia xác định năm mối quan hệ cơ bản và thông thường của mỗi đời người gọi là ngũ luân gồm quan hệ vua – tôi (quân thần), quan hệ cha – con (phụ tử), quan hệ chồng – vợ (phu phụ), 20 quan hệ anh – em (huynh đệ), quan hệ bạn bè (bằng hữu ). Mỗi một mối quan hệ lại có tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng. Trong mối quan hệ vua – tôi, vua phải nhân từ, bề tôi trung thành, trong quan hệ cha – con: cha hiền, con phải hiếu thảo, trong quan hệ vợ – chồng: chồng biết tình nghĩa, vợ nghe lẽ phải, trong quan hệ anh – em: anh phải tốt, em ngoan, trong quan hệ bạn bè thì bạn bè phải giữ đuợc chữ tín.
Trong ngũ luân lại có ba mối quan hệ cơ bản nhất gọi là tam cương (quân thần vi cương, phụ tử vi cương, phu thê vi cương). Ba mối quan hệ cơ bản này Nho gia đều đưa ra từng tiêu chuẩn riêng cho từng mối quan hệ. Trong quan hệ vua – tôi, Nho gia chống lại việc duy trì ngôi vua theo kiểu cha truyền con nối, lên án việc chức tước truyền theo huyết thống, dòng dõi, mặc dù trong xã hội đương thời vẫn có ba kiểu lên ngôi được thừa nhận; lên ngôi do cha truyền con nối, lên ngôi do vua trước truyền lại và lên ngôi do đổi mệnh vua tức giết vua đang cầm quyền mà người giết vua thuận theo ý trời và ý dân. Khổng Tử cho rằng người cầm quyền phải có đức, có tài mà không cần tính đến đẳng cấp xuất thân của họ.
Khi bàn đến Trọng Cung, người học trò của mình, Khổng Tử nói: “Con bê là con của con bò lang , mọc lông màu đỏ, hai sừng cân đối ngay ngắn. Người ta cho là vì mẹ nó lang không định dùng nó làm vật tế. Nhưng thần núi thần sông có lỡ bỏ rơi nó đâu” [60, 209]. Dù Trọng Cung có tài đức nhưng hoàn cảnh xuất thân thấp kém nên không được ra làm quan.
Dựa trên câu nói về học trò của mình, với tư tưởng là một nhà dân chủ, Khổng Tử đã phản đối quan niệm cha truyền còn nối, ông cho rằng một người dù nghèo nhưng có tài trị quốc an dân thì có thể làm quan. Theo Khổng Tử, người làm chính trị yêu cầu cần thiết nhất đó là phải có đức nhân.