Chương I SỰ DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN TAM GIÁO TẠI VIỆT NAM ĐẾN TRƯỚC THỜI LÊ THÁNH TÔNG 1. Sự du nhập Tam giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam đến trước thời Lê Thánh Tông. Lịch sử tư tưởng Việt Nam có hai giai đoạn. Từ khi nước ta tiếp xúc với Phương Tây, du nhập tư tưởng phương Tây tức là giữa thế kỷ XIX cho đến nay, đó là thời đại mới, tư tưởng Việt Nam tiếp cận và hòa vào dòng tư tưởng đồng đại của thế giới.
Đối với giai đoạn mới nghiên cứu vấn đề nội dung tư tưởng tương đối thuận lợi. Đó là nội dung đối tượng và phương pháp chung tương tự như khi nghiên cứu tư tưởng triết học cận hiện đại của các nước. Nhưng với giai đoạn trước đây thì công việc phức tạp hơn. Nghiên cứu tư tưởng Lê Thánh Tông ở thời kỳ này cũng đặt ra rất nhiều vấn đề nhưng không giống cách ở Phương tây, nơi đã cung cấp cơ sở để hình thành phương pháp nghiên cứu hiện đại mà chúng ta đã sử dụng phổ biến.
Cần chú ý, trong Bắc Thuộc và thời gian Phong kiến độc lập đến trước Lê Thánh Tông dài ước tính từ thế kỷ II sau công nguyên cho đến thế kỷ XV, nước ta có sự tiếp biến hỗn dung của Tam giáo, du nhập từ Trung Quốc vào. Tam giáo Nho, Phật, Đạo có thay thế nhau giữ vai trò quan trọng nhưng thực tế đời sống là cả ba có kết hợp với nhau, thẩm thấu vào nhau, chia phạm vi với nhau, chi phối đời sống tinh thần của nhân dân ta. Bên cạnh Tam giáo còn là sự song song tồn tại của cách suy nghĩ dân gian để dấu vết lại trong các truyện kể và kết tinh trong tục ngữ, ca dao… Cũng cần nói đến ảnh hưởng khác nữa của các học thuyết âm dương, Ngũ hành, cách phân tích thời, thế …Chúng cũng là những tư tưởng du nhập chủ yếu từ Trung quốc và cũng tồn tại không hoàn toàn độc lập với Tam giáo, các dòng đan xen tư tưởng đó ảnh hưởng lớn đến các tư tưởng tri thức chính trị và đạo đức, cách suy nghĩ, tính toán trong cuộc sống, sự kết hợp uyển chuyển giữa Nho, Phật, Đạo, giữa Tam 8 z giáo với cách suy nghĩ tính dân gian, giữa những thứ đó với Âm dương, Ngũ hành, để tổng hợp chung nhất thành quan niệm người Việt Nam về thế giới, quan niệm về con người, cuộc sống, quan niệm sự vận động, sự đổi thay lịch sử … Sự hỗn dung đó mới đúng là cách tư duy Việt Nam mà rõ ràng Lê Thánh Tông cũng không ngoại lệ này. Bởi vậy tư tưởng Lê Thánh Tông Việt Nam không chỉ là cái “thổ sản” “thuần Việt”, mà còn tiếp biến nhiều cái từ ngoài đến, có khi được cải tạo, có khi để nguyên dạng, nhưng đều được sắp xếp theo một cách nào đó hay sử dụng theo một cách nào đó, cái này mới là mấu chốt của bản lĩnh Việt Nam và ưu nhược điểm của cái này mới là cái chi phối sâu xa tư duy Việt Nam nói chung, tư duy Lê Thánh Tông nói riêng.
Nho giáo từ thế kỷ II về sau dần dần ảnh hưởng chủ đạo đều từ Trung Quốc truyền vào nước ta, Nho giáo được truyền bá với sự xâm lược quân sự từ đời Hán, với chính quyền Phương Bắc đô hộ hàng ngàn năm và với những lớp người Hán tỵ lạn sang Giao Châu, mảnh đất lúc ấy yên ổn hơn nội địa. Song những người Hán quan lại hay không phải quan lại đã mang đến đây cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Riêng đối với Phật giáo thì tình hình du nhập có khác một chút. Nằm trên con đường biển từ Ấn Độ sang phương Đông Nam và Trung Quốc, vùng ven biển nước ta đã.
Cuối đời Hán, Luy lâu (Thuận Thành - Hà Bắc) đã là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh trung tâm Luy Lâu còn ra đời trước cả trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Quốc, và về đường biển có phần thì Phật giáo từ Việt Nam mà vào Trung quốc, thế nhưng đối với chính quyền và lớp trí thức thượng lưu thuộc người Hán vào mấy thế kỷ sau thì Phật giáo ở đây cũng đã phát triển theo ảnh hưởng Phật giáo từ Trung Quốc. Ở Trung Quốc từ Hán Võ Đế đã tìm ra phương thức Nho Pháp tĩnh dụng cho việc trị nước, bảo vệ chế độ chuyên chế. Tư tưởng, học thuật Tôn giáo ở Trung Quốc trong tình hình đó về sau cũng phát triển theo xu hướng dung hợp Phật, Đạo, Hoàng Lão- âm dương - ngũ hành với Nho giáo.
Tuy về sau ở Trung Quốc Nho giáo 9 z được tôn làm quốc giáo, cũng đến đấy từ Hán, mới có điều kiện để tiến hành việc tổng hợp hệ thống hóa: xác định thành phần kinh điển, xác định văn bản và giải thích chính thức các luận điểm. Gói hành lý tinh thần mà các nhà trí thức Trung Quốc mang vào vùng đất mới Giao Châu cũng là hỗn tạp như vậy. Nhưng liệu những thứ đó truyền bá được đến mức nào trong xứ sở Phương Nam còn cư dân vốn giữ nguyên tổ chức công xã làng quê với những phong tục, tín ngưỡng của mình ? Và nền học thuật Hán hoá đó quan hệ như thế nào với Phật giáo từ Ấn Độ đã có thời gian du nhập trước để bám rễ vào nhân dân? Nên điều đáng chú ý là Nho giáo tuy vào sớm và chắc chắn được bộ máy thống trị ưu tiên truyền bá - chứng cớ là những điều sử sách ghi chép về sự nghiên cứu của Nhâm Diến, Tích quang, Sỹ Nhiếp thế nhưng trong thực tế thì nó phát triển chậm, chậm so với Phật giáo và Đạo giáo. Qua Ngô, Đinh, Tiền Lê, mãi đến thế kỷ XI, nhà Lý mới xây dựng Văn Miếu, tổ chức thi cử Tam giáo.
Tuy vậy, các Vua nhà Lý và cả nhà Trần nữa, vẫn tìm chỗ dựa chính ở Phật giáo. Từ thế kỷ XV với nhà Lê sơ Nho giáo trở thành độc tôn, chi phối mọi mặt hoạt động, độc tôn là nói Nho giáo trong khoa cử thay Phật giáo, nhà Nho thay nhà sư trong đời sống chính trị nhà nước, còn thực tế trong xã hội thì Phật giáo, Đạo giáo vẫn còn ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân và cả trong tư tưởng Vua quan, nhất là tư tưởng đạo đức. Tại Trung Quốc Nho giáo vốn không phải thuần nhất, có hệ thống chặt chẽ, do yêu cầu thực tiễn càng về sau, khi đồng chức năng ý thức hệ và Tôn giáo chính thống, để giải đáp nhiều vấn đề thực tế và ứng phó với các học thuyết khác (nhất là Phật giáo) Nho giáo lại càng phải vay mượn, dung hợp nhiều thứ hơn. Nhà Nho, nhất là nhà Nho từ Đường Tống về sau, càng ít thuần nhất; trong tư tưởng của họ hội cả thành phần âm dương, Lão Trang, Phật thường là không nhỏ, thứ Nho giáo thời lê được truyền bá vào và có ảnh hưởng nhiều ở Việt Nam sau Minh là thứ Nho giáo hậu kỳ- Sau Tiên Tần, Hán-Tống Nho- Minh Nho.
Trong lịch sử Nho giáo ở Trung quốc từ thời Xuân thu, Chiến quốc cho đến trước Tần- Hán việc học tập kinh điển tiến 10 z hành theo lối sư truyền trực tiếp, ảnh hưởng khá rộng rãi. Sau nạn đốt sách của nhà Tần, triều đình nhà Hán mới sưu tập kinh điển, đặt các chức Bác sỹ ngũ kinh để giảng dạy và tiến hành với quy mô lớn và lâu dài việc xác định thành phần kinh điển, văn bản và nội dung kinh điển. Đến đời Hán Linh đế (Hy bình năm thứ 4) mới chọn định bản khắc vào bia, đá dựng trước nhà Thái học. Qua một thời gian loạn ly dài, nhất là do tình hình phân tranh Nam Bắc từ thế kỷ II đến thế kỷ VII, các luận giải kinh điển Nho học ý kiến đã trở thành rất phân tán.
Đường Thái Tông lại sai Khổng Dĩnh Đạt cùng một số ng- ười khác soạn Ngũ kinh chính nghĩa để thống nhất kinh điển một lần nữa. Từ Hàn Dũ (768 - 824) đời Đường đến đời Tống có một xu hướng khôi phục lại, tổng hợp mới Nho, Phật, Đạo để Nho giáo đủ sức đối lập với Phật giáo và Đạo giáo phát huy vai trò ý thức hệ và phát triển cùng với ý nghĩa là Tôn giáo kết tinh lại thành học thuyết Tống Nho với các tên tuổi nổi bật là Chu Hy (1130 - 1200) và Trình Hạo, Trình Di. Về mặt lịch sử tư tưởng, ở đời Tống, Trình- Chu không phải là phái duy nhất, cũng không phải là phái tiến bộ nhất, nhưng đáng nói là ảnh hưởng của phái đó ngay từ đời Nguyên, ở Phương Nam đã rất lớn. Đến đời Minh mà dòng họ trị vì là con cháu Chu Hy, thì các giải thích kinh điển của Chu Hy được coi là chính thống.
Năm 1414 Minh Thành Tổ giao cho Hồ Quảng biên soạn Tính Lý đại toàn, trình bày học thuyết Lý học một cách hệ thống Tống Nho. Trong lịch sử tư tưởng nước ta thời Bắc Thuộc thứ Nho giáo thời Hán, đời Đường chắc cũng vào nước ta nhưng ảnh hưởng chỉ hạn chế trong đám người Hán di cư. Còn Tống nho thì do sự tiếp xúc khá mật thiết của nước ta dưới thời Lý-Trần với phương Nam Trung Quốc, do sự đô hộ của nhà Minh, nên ảnh hưởng từ đấy nhanh chóng và rộng rãi hơn. “Đại Việt sử ký toàn thư ” chép: “ Năm Kỷ hợi (1419).
Mùa xuân, tháng hai. Nhà Minh sai giám sinh Đường Nghĩa sang ban các sách Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý đại toàn, Vi thiện âm chất, hiếu thuận sự thực cho Nho học các phủ, châu, huyện. Đến năm 1435 nhân có phái đoàn sang chúc mừng vua Minh lên ngôi, vua Nhà Minh 11 z lại ban sách Tứ thư đại toàn mới in xong. Cũng cần nhắc đến quy định khoa cử trong chiếu định khoa thi của Lê Thái Tông năm 1434 có quy định môn thi “kỳ thi thứ nhất một bài kinh nghĩa, Tứ thư mỗi sách một bài”.
Việc tách hai thiên Trung dung, Đại học trong Lễ ký thành sách, phân chương mục, chú thích và đưa hai quyển đó vào Kinh điển như Ngũ kinh là việc làm của Trình Di và Chu Hy. Đến đời Nguyên Nhân Tông (1312 - 1320) thì sách Tứ thư thành kinh điển dùng cho việc thi cử. Ở nước ta từ năm 1396 cũng bắt đầu “theo phép thi của nhà Nguyên”cũng cần nhắc là trước đó đời Trần Chu văn An đã soạn Tứ thư thuyết ước. Từ đó cho đến thế kỷ XV uy tín của Trình Chu trong việc giải thích kinh điển là tuyệt đối trong quy định khoa cử của nhà Lê sơ và được cố gắng duy trì về sau.