Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết. 11 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN STUART MILL 1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC JOHN STUART MILL John Stuart Mill (1806 -1873) là một triết gia nổi tiếng nước Anh thế kỷ XIX.Mill nói chung cũng như tư tưởng đạo đức của ông nói riêng mang đậm dấu ấn thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XIX, nước Anh trở thành một nước công nghiệp thực thụ.
Bước chuyển quan trọng trong lĩnh vực kinh tế nước Anh được đánh dấu bằng cuộc cách mạng công nghiệp, nổ ra từ nửa sau thế kỷ XVIII. Cách mạng công nghiệp thể hiện đầu tiên ở việc cải tiến công cụ sản xuất. Sau đó, sự xuất hiện máy hơi nước, phát minh của James Watt (1736 - 1819) được thể hiện như cột mốc vĩ đại, đánh dấu bước nhảy vọt của lực lượng sản xuất. Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa của nước Anh phát triển ngày càng mạnh và đạt đến một trình độ khá cao.
Việc cơ khí hóa sản xuất làm cho sản xuất công nghiệp tăng lên nhanh chóng. Các ngành luyện kim và cơ khí phát triển mạnh nhằm trang bị kỹ thuật toàn bộ cho công nghiệp. Năm 1810, sản lượng gang của Anh là 225.000 tấn; năm 1850, con số đó là 2. Hệ thống đường sắt phát triển mạnh: từ 2.000km tăng lên 10.000km trong thời gian từ 1840 đến 1850 [41,105].
Sự phát triển của đường sắt thúc đẩy sự phát triển của thị trường trong nước và tăng cường sự liên hệ giữa các trung tâm công nghiệp. Ngành hàng hải cũng có những biến đổi quan trọng nhờ việc ứng dụng máy hơi nước: nhiều công ty hàng hải lớn được thành lập. Sự phát 12 triển của giao thông vận tải ảnh hưởng đến ngoại thương: số lượng hàng xuất khẩu ngày càng nhiều. Sự phát triển công nghiệp cũng ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp.
Máy móc và phương pháp canh tác mới được sử dụng trong nông thôn, do đó năng suất nông nghiệp tăng cao. Nước Anh là nước có trình độ nông nghiệp tiên tiến thời bấy giờ. Cách mạng công nghiệp đã hoàn toàn thay đổi bộ mặt của nước Anh, đưa nước Anh lên địa vị hàng đầu của thế giới. Tuy nhiên, ngay trong thời kỳ phát triển, nền công thương nghiệp nước Anh cũng không tránh khỏi khủng hoảng.
Vào năm 1825, cuộc khủng hoảng kinh tế lớn đầu tiên nổ ra. Tiếp đó, theo chu kỳ 10 năm, những cuộc khủng hoảng khác đã xảy ra vào năm 1837, 1847 gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước Anh. Ðến những năm 50 - 60 thế kỷ XIX, nền công nghiệp Anh đã phát triển tới mức phồn thịnh, đứng đầu thế giới. Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu và hoàn thành sớm ở Anh làm cho công nghiệp Anh trong thời kỳ này phát triển cực mạnh, đưa nước Anh lên địa vị bá chủ trong nền kinh tế thế giới.
Nước Anh đứng hàng đầu trong số những nước công nghiệp phát triển trên thế giới, đồng thời là công xưởng của thế giới. Các ngành công nghiệp đều phát triển với một tốc độ cực kỳ nhanh, đặc biệt dệt, than, sắt phát triển mạnh. Trong hai mươi năm (1850 - 1870), lượng than khai thác tăng lên ba lần, từ 34 triệu tấn lên 110 triệu tấn. Sản xuất gang tăng hơn 4 lần từ 1,4 triệu tấn lên 6 triệu tấn.
Năm 1850, nước Anh đã sản xuất 1/2 sản lượng gang, hơn 1/2 sản lượng than đá và gần 1/2 sản lượng bông của thế giới. Những trung tâm khai thác than lớn ở Anh là New Castle, Cadiff, Glasgow [41,177]. 13 Ngành dệt phát triển vượt bậc, số suốt sử dụng trong máy dệt gấp 6 lần Pháp, 20 lần Phổ (30 triệu ống suốt). Các trung tâm dệt: Manchester, Liverpool.
đã sử dụng 80% sản lượng bông vải của thế giới. Hệ thống đường sắt cũng phát triển nhanh, phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế.000km đường sắt. Phương tiện vận chuyển đường biển cũng có những bước chuyển biến căn bản. Trên biển, nước Anh đã sử dụng tàu vỏ sắt chạy bằng hơi nước thay cho tàu buồm vỏ gỗ.
Nước Anh còn cung cấp tàu biển cho thế giới. Sự phát triển ngành đường sắt và phương tiện vận chuyển đường biển đòi hỏi sự phát triển nhanh chóng ngành luyện kim và cơ khí, tăng cường chuyên chở hàng hóa Anh đi bán khắp nơi. Từ năm 1845 đến năm 1870, trong 25 năm, nước Anh xuất cảng máy móc tăng gấp 10 lần. Sự kiện có ảnh hưởng đối với sự phát triển kinh tế ở Anh là việc phát hiện ra mỏ vàng ở California (1847) và ở Australia (1851).
Hầu hết số vàng khai thác được đều rơi vào tay những nhà kinh doanh Anh. Từ 1852 - 1861, hàng hóa xuất cảng từ Anh sang Australia tăng 60 lần so với 10 năm trước đó. Yêu cầu phát triển kinh tế thúc đẩy quy mô các xí nghiệp tăng lên. Từ những năm 50 thế kỷ XIX, người ta thấy ở Anh đã có các xí nghiệp tập trung hàng ngàn, hàng vạn công nhân.
Quy mô của các xí nghiệp ngày càng lớn phản ánh quá trình tập trung tư bản, đưa đến sự thành lập các công ty cổ phần. Trong những năm 60 thế kỷ XIX, ở Anh đã xuất hiện từ 3000 đến 4000 công ty cổ phần, với số vốn xấp xỉ 600 triệu bảng Anh. Anh là nước đã thành lập các công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới. Nhiều thành phố, bến tàu, cửa biển trở nên sầm uất, 60% dân số Anh sống tập trung trong các thành thị.
Tuy nhiên, trong những ngày phát triển nhất này, nước Anh cũng phải trải qua hai cuộc khủng hoảng lớn năm 1857 và năm 1866 gây nhiều tổn thất. 14 Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển. Từ 1800 - 1870, xuất nhập khẩu Anh tăng gấp đôi. Anh chiếm vị trí thứ nhất trong nền thương mại quốc tế.
London trở thành trung tâm thương mại lớn nhất thế giới. Khẩu hiệu "Tự do mậu dịch, tự do thông thương" được đề cao hơn bao giờ hết. Cùng với sự lớn mạnh của công nghiệp, nông nghiệp nước Anh cũng không ngừng phát triển. Trong những năm 50 - 70 của thế kỷ XIX, nông nghiệp Anh bước vào thời kỳ phồn vinh chưa từng thấy.
Tư bản đầu tư vào nông nghiệp lên đến 1/3 và có khuynh hướng phát triển ngành chăn nuôi. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Anh trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XIX, đưa nước Anh bước vào thời đại phồn vinh, không những đóng vai trò của một “công xưởng thế giới” mà còn giữ địa vị “bá quyền trên mặt biển”. Tóm lại, cách mạng công nghiệp đã hoàn toàn thay đổi bộ mặt của nước Anh, đưa Anh lên địa vị hàng đầu của thế giới. Giá trị tổng sản lượng quốc dân từ năm 1801 - 1851, tăng từ 125,6%, từ năm 1851 - 1901, tăng 213,9% [13,196 - 197].
Ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp Anh lan sang các nước khác như Pháp, Bỉ, Mỹ, Đức, Nga… thúc đẩy sự tiến bộ đáng kể của lực lượng sản xuất khiến sức sản xuất của xã hội phát triển nhanh chóng, giá thành sản phẩm công nghiệp giảm đáng kể. Trong tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản (1848) C.Ăngghen khẳng định “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hoá học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo… Có thế kỷ nào 15 trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội” [23,547].Mill sinh ra ở London và phần nhiều cuộc đời ông đã trải nghiệm tại thành phố phát triển sầm uất bậc nhất thế giới này. Những bước tiến như vũ bão của nền kinh tế Anh thế kỷ XIX đã ảnh hưởng lớn đến một thế hệ những nhà kinh tế học tiêu biểu, trong đó có J.
Những nhận định sâu sắc của J.Mill về kinh tế đã hỗ trợ ông rất nhiều trong tư tưởng đạo đức và chính trị. Cuộc cách mạng công nghiệp không chỉ làm thay đổi sức sản xuất mà còn tạo nên sự chuyển biến quan trọng về quan hệ sản xuất và cấu trúc giai cấp.Ăngghen từng nhận xét: “Hơi nước và máy công cụ mới đã biến công trường thủ công thành đại công nghiệp hiện đại, và do đó, đã cách mạng hoá toàn bộ nền móng của xã hội tư sản” [23,276]. Việc sử dụng máy móc một cách rộng rãi đã tạo ra cơ sở vật chất cho nền sản xuất xã hội hoá. Nó biến tư liệu sản xuất trước kia thành tư liệu sản xuất do nhiều người cùng sử dụng, phát triển quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa, làm tăng mối tương hỗ giữa các xí nghiệp và các ngành, khiến cho hoạt động sản xuất từ chỗ là hoạt động cá nhân thành hoạt động toàn xã hội.
Sản phẩm được biểu hiện thành kết quả lao động chung của nhiều người. Nó sát nhập nhiều thị trường địa phương nhỏ hẹp thành một thị trường thống nhất trong cả nước và mở rộng thành thị trường thế giới. Dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của nền đại công nghiệp gắn với sự xác lập ngày càng nhiều các công xưởng và nhà máy, một bộ phận mới của giai cấp tư sản là tư sản công nghiệp hình thành và ngày càng phát triển lớn mạnh. Nhờ việc nắm ưu thế về quyền lực kinh tế, họ dần dần vươn lên thâu tóm lĩnh vực chính trị trong xã hội Anh.
Từ đầu thế kỷ XIX, các nhà tư sản công nghiệp Anh đã tiến hành cuộc đấu tranh đòi chính quyền thực hiện cải 16 cách tuyển cử, đòi quyền được tham gia quản lý đất nước vốn được xem là đặc quyền của bộ phận quý tộc mới. Sau quá trình đấu tranh lâu dài dưới nhiều hình thức, giai cấp tư sản cũng đã từng bước củng cố thế lực của mình, tham gia vào vũ đài chính trị và giành được địa vị thống trị ở Anh thông qua ba cuộc cải cách tuyển cử vào các năm 1832, 1867 và 1884. Bên cạnh đó, giai cấp tư sản công thương nghiệp giàu lên nhanh chóng, đông đảo về số lượng và có tiềm lực mạnh về kinh tế. Họ đòi hỏi được tự do kinh doanh không chấp nhận những quy chế khắt khe của nhà nước phong kiến.