Chương 1: Cơ sở hình thành tư tưởng chính trị của Trần Quốc Tuấn Chương 2: Nội dung tư tưởng chính trị của Trần Quốc Tuấn Chương 3: Ý nghĩa lịch sử và bài học về tư tưởng chính trị của Trần Quốc Tuấn 8 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA TRẦN QUỐC TUẤN 1. Bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ thứ XIII 1. Điều kiện kinh tế - xã hội Về kinh tế, sau khi củng cố, xác lập vương triều, nhà Trần khôi phục, phát triển kinh tế nông nghiệp và công thương nghiệp, nhằm ổn định đời sống nhân dân.
Về kinh tế nông nghiệp: Cơ cấu ruộng đất gồm: Ruộng công và ruộng tư Ruộng công: Có hai bộ phận ruộng công, gồm ruộng đất của triều đình trực tiếp quản lý và ruộng đất công của thôn làng. Ruộng công gồm: Ruộng quốc khố, hay quốc khố điền; Sơn lăng là loại ruộng dùng vào việc thờ phụng tổ tiên dòng họ nhà vua; Ruộng tịch điền là loại ruộng do triều đình trực tiếp quản lý; Ruộng công làng xã gọi là quan điền hay quan điền bản xã. Ruộng tư gồm: Thái ấp, điền trang, ruộng tư của địa chủ, ruộng đất tiểu nông. Nhìn chung, cơ sở kinh tế thời Lý- Trần về cơ bản là “chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất” thông qua công xã nông thôn.
Quyền sở hữu nhà nước về đất đai được thiết lập trên các làng xã nông thôn, còn các công xã được nắm quyền chiếm dụng và phân phối lại ruộng đất cho các thành viên công xã. Đây là mối quan hệ sở hữu kép mang đậm màu sắc của chế độ phong kiến phương Đông. Hình thức sở hữu ruộng đất gồm có ruộng đất sở hữu thuộc nhà nước và ruộng đất tư nhân. Hình thức ruộng đất sở hữu thuộc nhà nước được cấu thành với hai bộ phận: ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý và ruộng đất công làng xã (ruộng đất công do làng xã trực tiếp quản lý).
Bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý bao gồm: Sơn lăng, Tịch điền và Quốc khố. Sơn lăng là đất phần mộ, ruộng thờ (ruộng mộ), Sơn lăng thường được chọn đặt ở quê hương nhà vua. Về nguyên tắc những khu ruộng này được giao cho nông dân địa phương cày cấy nộp một số hoa lợi để dùng vào việc thờ phụng và sửa sang lăng, đền. Tổng diện tích của ruộng sơn lăng rất nhỏ hẹp.
Tịch điền là loại đất riêng của cung đình, phần lớn các hoa lợi trên ruộng này đề xung vào kho riêng của vua, dùng để tế tự, chẩn cấp cho người nghèo hoặc để tiếp khách. Tổng diện tích ruộng tịch điền cũng rất nhỏ hẹp. Ruộng quốc khố là một trong những loại 9 ruộng do nhà nước trực tiếp quản lý – dùng cho tội phạm hoặc tù binh cày cấy; nhà nước còn quy định cả mức tô cho ruộng quốc khố. Ruộng đất do nhà nước quản lý chiếm số lượng không lớn, nhưng cũng là nguồn thu nhập đáng kể của triều đình và vua nắm quyền chủ sở hữu.
Chế độ thuế khóa quy định trên cơ sở chế độ sở hữu ruộng đất. Có thể nói: “chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất giữ một vị trí hết sức quan trọng. Đó là cơ sở kinh tế của nhà nước. Nhà nước không chỉ coi nó là nguồn thu nhập gần như duy nhất về lương thực và tiền mà còn lấy nó là cơ sở để có được sức lao động lao dịch gần như duy nhất và lực lượng quân sự cần thiết”.
Nhà Trần định ra chế độ tô thuế cho ruộng công làng xã. Ruộng công làng xã chủ yếu giao cho làng xã chia nhau cày cấy và nộp tô trực tiếp cho nhà nước. Nhà Trần còn định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài, sử dụng ruộng đất công làng xã vào việc phong cấp cho quan lại, họ hàng, cận thần và công thần của mình, được gọi là thái ấp, tức ruộng đất do nhà vua ban cấp cho các quý tộc và triều thần có công. Thái ấp là một hình thức phong cấp làng xã cho vương hầu thời kỳ nhà Trần.
Thái ấp thuộc quyền sở hữu tư nhân các quý tộc nên các quý tộc, vương hầu được thu tô thuế, bắt dân đi lao dịch cho mình và thành lập quân đội riêng. Để thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, vua nhà Trần đặt ra cơ quan hà đê, có chức hà đê chánh và phó sứ được đặt ở các lộ để quản lý và trông coi đê điều. Năm 1266, nhà vua xuống chiếu: “Cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang lập điền trang”. Điền trang là những trang trại lớn của quý tộc thời kỳ nhà Trần, do quý tộc trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động của gia nô, nô tì; có quyền thừa kế.
Đó là bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu lớn phong kiến, tư nhân. Phương thức bóc lột điền trang chủ yếu là thu tô, những người cày cấy trong điền trang là nô tỳ và nông nô. Chế độ điền trang phát triển mạnh ở thời kỳ nhà Trần gắn liền với sự phát triển của chế độ nông nô và nô tỳ. Các vương hầu quý tộc nhà Trần được phép lập điền trang xây dựng phủ đệ, các lực lượng vũ trang riêng trên những địa bàn quan trọng.
Hệ thống điền trang, thái ấp thời ký nhà Trần và những hoạt động kinh tế - quân sự của nó đã thể hiện rất rõ nét đường lối kết hợp kinh tế với quốc phòng. Sự thành công 10 của đường lối này đã để lại cho đời sau những kinh nghiệm vô cùng quý giá trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Nhìn chung, nhờ có những biện pháp và chính sách khuyến nông tích cực nên nền kinh tế nông nghiệp thời kỳ nhà Trần khá phát triển, làm cho đời sống nhân dân ổn định, tạo nguồn dự trữ lương thực chuẩn bị cho kháng chiến chống xâm lược. Về thủ công nghiệp, gồm thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp nhân dân.
Thủ công nghiệp nhà nước có nhiều ngành nghề khác nhau như: chế tạo binh khí, đồ trang sức, đóng thuyền, đúc tiền, đúc chuông, xây dựng cung điện, đền đài cho nhà nước. Các quan xưởng thủ công nghiệp là thành phần kinh tế rất quan trọng của nhà nước. Thủ công nghiệp nhân dân bao gồm nhiều loại hình ở các làng, các phường thủ công quanh các thị trấn lớn. Nghề chăn tằm ươm tơ, dệt lụa, làm đồ gốm, xây dựng đền đài nhà cửa rất phát triển.
Nghề sản xuất đồ gốm là bộ phận quan trọng trong quan xưởng, sản xuất các đồ dùng như: chén bát, đồ thờ cúng và các vật liệu xây dựng như gạch, ngói… đồ gốm men Đông Thanh, gốm Bát Tràng với những đồ sành men trắng ngà, men nâu nổi tiếng tinh vi và đẹp. Ngoài ra, hàng mỹ nghệ, kim hoàn với những đồ làm bằng vàng bạc, ngọc, đá quý được chế tạo rất tinh xảo. Nghề khai khoáng luyện kim như vàng, bạc, sắt, đồng, chì, thiếc… vốn đã có từ trước nhưng nay được chú trọng và phát triển thêm đã cung cấp nguyên liệu cho nhà nước đúc tiền, đúc chuông, tượng, các nông cụ như các loại vũ khí, chiến cụ trang bị cho quân đội. Các nghề vàng bạc, nghề chạm khắc, nghề đúc đồng, rèn sắt, nhuộm vải cũng có một vị trí to lớn, đặc biệt đúc chuông, đúc tượng Phật và làm đồ dùng gia đình phát triển mạnh.
Nghề dệt đạt tới trình độ kỹ thuật khá cao. Những người thợ thủ công bấy giờ đã dệt được the, đoạn, gấm màu, lụa năm màu, lĩnh năm màu… Nghề mộc và xây dựng, làm nhà ở, dụng cụ gia đình, đồ thờ cúng ở thời kỳ cũng rất phát triển. Nghề làm giấy và khắc bản in gỗ đã có từ thời nhà Lý, đến nay cũng được chú trọng phát triển thêm. Nhiều kinh sách Phật giáo được ấn tống.
Nghệ thuật gốm sứ thời kỳ Lý- Trần vừa mang đậm sắc thái dân tộc vừa có trình độ thẩm mỹ cao và đạt đên đỉnh cao trong lịch sử phát triển. Về thương nghiệp, gồm nội thương và ngoại thương 11 Về nội thương: Chợ là kênh phân phối chủ yếu của mạng lưới thương mại tại đồng bằng sông Hồng. Số lượng chợ khá nhiều, mỗi huyện có vài chợ, chợ này họp lệch phiên với chợ kia. Ngay trong các làng xóm cũng có chợ, khoảng 2 ngày họp một lần, hàng hóa trăm thứ bày la liệt.
Hễ cứ 5 dặm dựng một ngôi nhà, 4 phía có mặt chõng để làm nơi họp chợ. Ngoài chợ, hàng hóa còn được phân phối qua các phố. Các trung tâm phủ lỵ bên sông lớn, đầu mối giao thông thủy bộ đều có phố. Phố Luy Lâu bên bờ sông Dâu là nơi buôn bán cố định.
Bờ sông Nghĩa còn có phố Lố cũng được hình thành vào thời Trần. Chợ có mặt ở khắp phố phường, đặc biệt là kinh đô Thăng Long với 61 phố phường buôn bán tấp nập trở thành trung tâm chính trị, văn hóa đồng thời cũng là một trung tâm kinh tế lớn nhất của Đại Việt lúc bấy giờ. Nhìn chung, chợ và phố là hai kênh phân phối của thị trường địa phương các hương, phủ nhằm giải quyết nhu cầu của các tầng lớp nhân dân. Về ngoại thương: Đối với ngoại thương, ngoài con đường biên giới trên bộ để thông thương với Trung Quốc, hải cảng là con đường thông thương chủ yếu với các quốc gia khác.
Cảng Vân Đồn là đầu mối tiếp nhận hàng hóa quốc tế quan trọng nhất từ thời Lý. Bên cạnh đó còn có các cảng Hội Thống, Cần Hải, Hội Triều. Những nơi này thu hút khá nhiều thương nhân nước ngoài và hàng hóa, đồng thời cũng là nơi xuất khẩu hàng hóa của Đại Việt. Đối tác tới buôn bán tại các thương cảnh là Trung Quốc, Diệp Điều (Java), Thiện ( Miến Điện), Thiên Trúc (Ấn Độ).
Các thuyền buôn nước ngoài không được phép vào sâu trong nội địa, chỉ được phép cập bến ngoài một số cảng sau khi nộp đủ một số phương vật quý cho triều đình. Vân Đồn là cảng lớn nhất, nhưng từ sau cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông, việc buôn bán bị hạn chế. Nhà Trần chuyển nơi đây thành nơi phòng thủ vì nhu cầu quốc phòng, tuy nhiên vẫn cho phép một số thuyền buôn nước ngoài vẫn thường xuyên ra vào. Về tiền tệ: Nhà Trần đã nhiều lần ban hành tiền tệ, đúc tiền đồng để thuận tiện cho việc trao đổi.
Quan hệ tiền tệ thâm nhập vào đời sống chính trị, tín ngưỡng. Ngoài tiền do triều đình đúc, nhà Trần cho phép lưu hành tiền của nhà Tống.