CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN” CỦA ARIXTÔT 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTÔT 1. Những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Lịch sử nhà nước có giai cấp ở Hy Lạp cổ đại bắt đầu từ thời đại Kritô - Miken, xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ ba. Nền văn hóa Kritô - Miken do các bộ lạc Akhây tạo ra, là nền văn hóa thuộc kỷ nguyên bạc.
Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhiều bộ lạc ở Bắc Hy Lạp đã di chuyển xuống phía Nam và tạo ra cuộc chinh phạt của người Đôriên. Nó đã tiêu diệt các nhà nước Kritô - Akhây và mở ra một thời đại mới là thời đại Hôme. Tính phát triển không đồng đều của lịch sử đã tăng lên ở thời đại này. Nó được thiết định bởi việc xã hội chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại bắt đầu sản xuất và sử dụng các công cụ bằng sắt.
Đây là thứ công cụ có hiệu quả hơn nhiều so với thứ công cụ bằng bạc và đã mở ra các khả năng to lớn để phát triển nông nghiệp. Quá trình tan rã của chế độ bộ lạc nguyên thủy và hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước ở Hy Lạp cổ đại kéo dài vài thế kỷ (khoảng các thế kỷ XI - VIII TrCN). Hậu quả là sở hữu tư nhân tăng lên rõ rệt dẫn tới sự tan rã của công xã nông thôn. Gắn với quá trình tan rã của lối sinh hoạt công xã là quá trình hình thành vô số nhà nước thành thị ở Hy Lạp cổ đại.
Các thành phố Hy Lạp cổ đại đã đi đến chỗ đối lập với nông thôn một cách gay gắt hơn nhiều so với các thành phố phương Đông cổ đại. Nhiều thành phố ở Hy Lạp cổ đại trở thành các trung tâm buôn bán lớn. 7 Mức độ buôn bán và sản xuất hàng hóa sôi động là một bằng chứng có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đối với sự xuất hiện của đồng tiền vào thế kỷ VII TrCN. Đây là một bước tiến bộ lớn trong quá trình phát triển của xã hội Hy Lạp cổ đại.
Lịch sử tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại gắn bó hữu cơ với quá trình tiến hóa xã hội và nhà nước Hy Lạp chiếm hữu nô lệ. Sự ra đời, củng cố và hưng thịnh, cuối cùng là suy tàn của nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp. Chính trị đã xuất hiện với tư cách là một trong những lĩnh vực kiến thức nhằm định hướng cho việc điều hành những công việc phức tạp của quốc gia. Lãnh thổ của Hy Lạp được mở rộng thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế văn hóa với các dân tộc khác.
Sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến việc các quan hệ và tổ chức xã hội bị đảo lộn. Nếu trước đây là hình thức tổ chức xã hội cũ như bộ tộc, bộ lạc thì giờ đây tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải xuất hiện. Phân công lao động phát triển, xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên sống bằng trí óc tạo điều kiện nảy sinh những tư tưởng chính trị. Mâu thuẫn giữa giới chủ nô dân chủ và giới chủ nô quí tộc xuất hiện trong nội bộ giai cấp chủ nô.
Phái dân chủ cho rằng phải đập tan chế độ chuyên chế độc tài của tầng lớp quý tộc giải phóng khỏi sự nô dịch của giới quý tộc cũ. Giới quí tộc muốn duy trì trật tự cũ và bằng mọi cách bảo vệ đặc quyền của mình. Chế độ sở hữu cá nhân được thừa nhận và không thay đổi, chế độ nô lệ được coi là tự nhiên phải có. Mâu thuẫn giai cấp cơ bản của xã hội chiếm hữu nô lệ được hình thành là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô.
Trong quá trình đấu tranh đó nhiều quan niệm về sự bình đẳng, tự do đã nảy sinh. Lịch sử Hy Lạp cổ đại là một bộ phận không thể tách rời trong lịch sử các nước Cận Đông Địa Trung Hải không những về nguồn gốc mà cả sự phát triển của văn hóa vật chất và đặc biệt là văn hóa tinh thần. Do đó, nền văn hóa 8 ở đây chịu ảnh hưởng to lớn của các nền văn hóa Ai Cập, Babilon, Phini và các nền văn hóa Cận Đông khác. Phù hợp với cơ cấu xã hội của các nhà nước phương Đông cổ đại là đời sống tinh thần của họ, mà quan trọng nhất là các phương diện: thần thoại, khoa học và tiền triết học.
Và chính vì vậy, văn hóa Hy Lạp cổ đại cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố này. Với những đặc trưng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại đã ra đời và phát triển với một thành tựu rực rỡ. Trên nền tảng chung đó, triết học Arixtôt đã ra đời. Triết học của Arixtôt là sự kế thừa trên cơ sở sáng tạo những giá trị văn hóa của người Hy Lạp cổ đại nói chung.
Ngoài ra, nó còn là sự tổng kết tư tưởng triết học của nhiều nhà triết học trước đó và khía cạnh này sẽ được trình bày trong phần dưới đây. Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng chính trị của Arixtôt Thời cổ đại mà đặc trưng là các tư tưởng và học thuyết chính trị Hy Lạp - La Mã. Họ đề cập về những vấn đề như nguồn gốc, bản chất của nhà nước, các hình thức xã hội, thể chế nhà nước, thủ lĩnh chính trị… Trước nhất, bàn về thủ lĩnh chính trị, đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến của các học giả về vấn đề này: - Xôcrat cho rằng: thủ lĩnh chính trị phải là người có đạo đức. Nhưng đạo đức phụ thuộc vào trí tuệ.
Tuy nhiên, do xuất thân từ tầng lớp chủ nô quý tộc nên ông cho rằng chỉ có thiểu số tầng lớp quý tộc mới là người có trí tuệ, mới là những người sáng tạo đúng đắn. - Đêmôcrít thì yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải là người có tài năng, đạo đức. Xuất phát từ lập trường duy vật và dân chủ nên ông cho rằng tầng lớp bình dân cũng có tài năng, có thể làm được chính trị. 9 - Xênôphôn lại yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải có kỹ thuật giỏi, phải có sức thuyết phục cao, người thủ lĩnh phải biết vì lợi ích chung nghĩa là phải biết chăm sóc cho người bị trị, biết hợp lại và nhân sức mạnh của mọi người.
Ông là người đầu tiên đặt ra yêu cầu về thủ lĩnh chính trị khá toàn diện như : phải có chuyên môn giỏi, có uy tín, vì dân… Ông cho rằng, việc làm chủ nghệ thuật chính trị là trình độ cao hơn mà con người có thể đạt tới. Theo ông, ai là người nhận thức được các vấn đề chính trị sẽ trở thành người trung thực, người tốt. Ai ngu dốt về điều đó sẽ trở thành hàng nô lệ. Người thủ lĩnh được chỉ định không phải để chăm lo cho cá nhân người đó mà để phục vụ những người mà anh ta chỉ huy, vì rằng những người này đã chọn anh ta, do những phẩm chất của anh ta, để bảo vệ cái lợi ích của họ.
Đồng thời, người thủ lĩnh phải luôn rèn luyện, tu dưỡng bản thân. - Platon thì yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải thực sự có khoa học chính trị, có tính khí phù hợp với nhiệm vụ đảm đương. Ông xem tiêu chuẩn chính trị là tiêu chuẩn của mọi tiêu chuẩn. Ông quan niệm người lãnh đạo trong xã hội không được có quyền tư hữu (sở hữu về tài sản), bởi vì tư hữu sẽ làm mất công tâm.
Lực lượng võ sĩ bảo vệ thì không được có gia đình riêng vì có gia đình riêng thì sẽ không thể chiến đấu dũng cảm được. Theo ông, thủ lĩnh chính trị phải biết hy sinh lợi ích cá nhân vì những giá trị chung. Ông chia xã hội thành ba hạng người khác nhau: Ở địa vị cao nhất là các nhà triết học, những người này có vai trò quan trọng trong việc cai trị đất nước, họ nắm quyền bính trong tay và đảm nhận vai trò lãnh đạo. Ở địa vị thấp hơn là những người lính làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh.
Thấp nhất là những người thuộc tầng lớp nông dân, thợ thủ công. Họ có nhiệm vụ làm ra của cải vật chất, đảm bảo cuộc sống cho nhà nước. Theo Platon nhà nước xuất hiện từ sự đa dạng hóa các nhu cầu con người và từ đó xuất hiện các dạng phân công lao động để thỏa mãn các nhu cầu ấy. Vì vậy, trong xã hội phải duy trì các hạng 10 người khác nhau.
Do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người. Sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, nó phá hoại chỉnh thể và thống nhất của nhà nước. Vì vậy nó phải được loại trừ ra khỏi xã hội. Theo ông cho dù nhà nước nào cũng tồn tại hai nhà nước thù định lẫn nhau: một là nhà nước của những người giàu có, còn nhà nước kia là của những người nghèo khó.
Vì vậy, cần phải có sự thống nhất về sở hữu. Tuy có những quan điểm tiến bộ nhưng ông vẫn còn sai lầm khi cho rằng một thủ lĩnh chính trị như vậy chỉ có ở tầng lớp chủ nô quý tộc. Đây là lí do mà sau này Arixtôt – học trò của ông đã phê phán cái mô hình chính trị tư tưởng mà Platon đề ra trong tác phẩm Chính thể Cộng hòa. Thứ hai, bàn về nguồn gốc của quyền lực nhà nước, một số quan điểm nổi bật của các học giả như sau: - Hêraclít: là người thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc, ông xem trạng thái tự nhiên của con người tự nó đã hoàn hảo, không có vấn đề công bằng hay không công bằng ở đó vì công bằng do con người tạo ra.
Xã hội con người là một trạng thái tự nhiên, tự nó, không ai sinh ra, không ai sắp đặt nó, tự nhiên sinh ra có kẻ trí và người ngu cho nên kẻ trí thống trị người ngu là lẽ tự nhiên, kẻ trí là người quí tộc, nô lệ là người ngu. Ông cho rằng quyền lực là quy luật vĩnh viễn. Không bao giờ trong xã hội lại không có quyền lực. Pháp luật nhằm thực hiện tính tất yếu của quyền lực, xã hội phải phục tùng ý chí của một cá nhân là điều tất yếu cho sự thống nhất.
Theo ông bất bình đẳng là tự nhiên, một quý tộc phải được trị giá bằng một nghìn dân thường.