phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia thành hai chƣơng, năm tiết. 9 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTỐT 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ ARIXTỐT(1) 1. Điều kiện lịch sử tác động đến sự hình thành tƣ tƣởng chính trị Arixtốt Quá trình phát sinh, phát triển của triết học Hy Lạp nói chung, của tƣ tƣởng chính trị Arixtốt nói riêng là sự phản ánh và bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội Hy Lạp cổ đại.Ăngghen đã viết: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp” [37, tr.
Vì vậy, nghiên cứu tƣ tƣởng chính trị của Arixtốt cần phải đặt trong điều kiện lịch sử hình thành nên nó. Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều chặng đƣờng phát triển thăng trầm với những nền văn minh lần lƣợt ra đời nối tiếp nhau. Ngay trong buổi bình minh, nhiều nền văn minh của các dân tộc phƣơng Đông (Trung Hoa, Ai Cập, Babilon…) đã báo hiệu khả năng sáng tạo vô tận của loài ngƣời. Tất cả những tinh hoa của buổi ban đầu ấy hình nhƣ chuẩn bị cho sự ra đời của một nền văn minh mới, muộn hơn, nhƣng rực rỡ hơn vào khoảng những thế kỷ giữa của thiên niên kỷ I tr.
Đó là nền văn minh Hy Lạp. Ngƣời Hy Lạp thời cổ đại sống trong các thị quốc và các thị quốc này đƣợc cai trị theo những cách thức khác nhau. Mức độ phát triển của các thị quốc cũng không giống nhau. Có nơi thì phát triển rất hùng mạnh, có nơi thì ngƣợc lại.
Giữa các thị quốc lại thƣờng xuyên xảy ra những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau đã dẫn đến sự liên tục xuất hiện và tàn lụi của các 1 Theo tiếng Hy Lạp là Αριζηοηέλης, phiên từ tiếng Hy Lạp ra tiếng Latinh là Aristoteles, phiên ra tiếng Anh là Aristotle, phiên ra tiếng Pháp là Aristote. Trong số đó, Aten (Athens) và Xpácta (Sparta) nổi lên nhƣ những thị quốc hàng đầu, luôn đối đầu nhau trong việc tranh giành vị trí thống trị thế giới Hy Lạp. Vào thế kỷ VI tr. CN, trong cộng đồng ngƣời Hy Lạp, Aten là một thị quốc (polis) tân tiến nhất và phức tạp nhất.
Những nguyên nhân dẫn đến sự hƣng thịnh và cách thức tổ chức đời sống mang tí nh chất dân chủ sơ khai là một chủ đề tranh luận lớn cho đến tận ngày nay. Thị quốc Aten nằm trên vùng đồng bằng Attich thuộc miền Trung Hy Lạp. Đây là vùng đồi núi, đồng bằng ít và hẹp, đất xấu không thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp nhƣng bù lại ở đây lại có nhiều khoáng sản và đặc biệt ở Aten có nhiều hải cảng thuận lợi cho việc thông thƣơng mậu dịch. Nhờ vậy, quan hệ hàng hóa tiền tệ ở đây phát triển sớm và nhanh.
Phân công lao động phát triển cho phép trong xã hội xuất hiện tầng lớp những ngƣời lao động trí óc ngày càng có nhiều thời giờ rảnh rỗi, suy ngẫm về thời thế để có thể nảy sinh ra các tƣ tƣởng chính trị. Ngoài ra, với vị trí địa lý gần gũi với các quốc gia cổ đại phƣơng Đông có nền văn minh lâu đời đã tạo điều kiện cho sự giao lƣu văn hóa Đông – Tây. Trong sự giao lƣu tích cực với những giá trị văn hóa tinh thần phƣơng Đông, ngƣời Hy Lạp đã tạo ra những đƣờng nét đặc trƣng, tiêu biểu cho phong cách tƣ duy phƣơng Tây. Việc hình thành và phát triển chế độ nô lệ cùng với sự phát triển kinh tế, giao lƣu buôn bán, thƣơng mại, nghề thủ công của các thị quốc Hy Lạp đã tạo ra một tầng lớp thị dân tự do.
Dần dần những công dân này trở thành những chủ nhân mới của nền văn minh Hy Lạp. Đó chính là cơ sở kinh tế - xã hội làm xuất hiện ngày càng nhiều những ngƣời lao động trí óc xuất thân từ giai cấp chủ nô giàu có. Họ có điều kiện học hành, giao du học hỏi, nghiên cứu ở nhiều nƣớc. Vì thế, Aten trở thành một trung tâm văn hóa của Hy Lạp cổ đại và là cái nôi của 11 triết học châu Âu với những trƣờng phái triết học nổi tiếng lƣu danh đến ngày nay.
Nhƣ vậy, chính điều kiện đị a lý, sƣ̣ tồn tại, phát triển và thay thế nhau của các thị quốc, sự đan xen giữa các hình thức cai trị, sƣ̣ mở rộng lãnh thổ , giao lƣu văn hóa…đã tạo nên tí nh đa dạng và phƣ́c tạp của đời số ng chí nh trị. Điều đó đƣợc Arixtốt thể hiện trong tƣ tƣởng chí nh trị của ông. Cùng sự phát triển về kinh tế, văn hóa là sự ra đời chính thể dân chủ; xuất hiện đầu tiên ở Chios và sau đó là hàng loạt các đô thị khác mà đỉnh cao của nó là nhà nƣớc Aten. Dân chủ (democracy)(1) với tính cách là phƣơng thức tổ chức đời sống chính trị, một hình thức nhà nƣớc, đồng thời là một giá trị nhân bản, đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử.
Dù có những cách tiếp cận khác nhau, xét theo bản chất của các nền dân chủ, song nội hàm của khái niệm “dân chủ” về cơ bản không thay đổi ở nghĩa gốc của nó. Nói cách khác, một mặt, cần phân biệt dân chủ căn cứ vào những điều kiện lịch sử và bản chất của chế độ chính trị, chẳng hạn “dân chủ chủ nô”, “dân chủ tƣ sản”, “dân chủ xã hội chủ nghĩa”; mặt khác, cần hiểu dân chủ nhƣ thành quả của loài ngƣời thì mới làm sáng tỏ quy luật kế thừa và phát triển trong lịch sử tƣ tƣởng nhân loại, mà nói nhƣ C.Ăngghen, “lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ riêng lẻ, trong đó mỗi thế hệ điều khai thác những chất liệu do tất cả những thế hệ trƣớc để lại” [36, tr. Nền dân chủ Aten thƣờng đƣợc ca ngợi trong quá khứ nhƣ mẫu mực (nền dân chủ đầu tiên, mà lại là dân chủ “thực sự”) và đƣợc hiểu là hình thức 1 Từ ngữ Hy Lạp là δημοκραηία, phiên từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latinh thành Demokratia, đƣợc hợp nhất và giản lƣợc từ δημος (demos - nhân dân) với từ κραηος (kratos - quyền lực), nghĩa là “quyền lực của nhân dân”. 12 nhà nƣớc, một chế độ chính trị đƣợc xác lập trên cơ sở thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, trên nguyên tắc bình đẳng và tự do [82, tr.
Khái niệm “dân chủ” là một phát minh chính trị của ngƣời Hy Lạp. Nó đƣợc hình thành từ thế kỷ VI tr. CN, gắn liền với nhiều cuộc cải cách của Xôlông (Solon, khoảng 638 – 558 tr. CN) đạt đến sự phát triển cực thịnh và đƣợc thể chế hóa vào nửa sau thế kỷ V tr.
CN, dƣới thời Pêricơlét (Pericles, khoảng 495 – 429 tr. Trong đó, nó quy định một số quyền lợi bất khả xâm phạm của cá nhân nhƣ cơ sở tất yếu của hoạt động sống, trong đó có quyền lựa chọn các đại diện của mình vào cơ quan lập pháp, quyền đƣợc học tập và rèn luyện thể chất, quyền và nghĩa vụ tham gia bảo vệ nhà nƣớc, một số quyền và nghĩa vụ khác của ngƣời tự do. Nền dân chủ Aten đƣợc coi là hình thức hoàn thiện, đầy đủ nhất của lối tổ chức cai trị dân chủ trong nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ. Dẫu sao các cải cách chính trị này đã đi vào lịch sử nhƣ nét chấm phá đầu tiên, đầy ý nghĩa trong quá trình hoàn thiện cách thức tổ chức đời sống con ngƣời.
Nền dân chủ đã tạo ra sự khởi sắc trong sinh hoạt kinh tế và văn hóa của xã hội. Thế kỷ V tr. CN, Aten là thị quốc giàu có nhất Hy Lạp với một nền sản xuất hàng hóa phát triển, có đội thƣơng thuyền mạnh, làm chủ cả vùng đại dƣơng rộng lớn, tăng cƣờng giao lƣu văn hóa, kinh tế với các lân bang và các nƣớc phƣơng Đông. Nhƣng sau nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, nền dân chủ Aten, ngay vào thời điểm chín muồi, đã bộc lộ dần những mặt trái của mình.
“Một đằng thì ngƣời Hy Lạp đã khám phá, hay phát minh ra nền dân chủ, kịch nghệ, triết lý, nhƣng đằng khác, họ lại bo bo giữ lấy những nghi lễ, tín ngƣỡng cổ hủ, và không tránh đƣợc nội chiến. Ngƣời Aten chuộng tự do mà lại xử tử Xôcrát. Tuy họ đƣa ra thuyết “Tri bi” và thuyết trung dung, thực hiện đƣợc những kiến trúc cân đối, hoàn mỹ, và nền giáo dục của họ phát triển toàn 13 diện con ngƣời về thể xác cũng nhƣ về trí tuệ, họ thƣờng tỏ ra khinh mạn con ngƣời … ngạo mạn đã mang hình phạt tới cho họ” [5, tr. Nền dân chủ Aten, dù đã tạo ra sự khởi sắc nhất định trong đời sống xã hội, vẫn chỉ là hệ thống chính trị hạn chế, chật hẹp, khép kín, chỉ mở rộng cho dân “tự do”, tức công dân.
Nô lệ là giai cấp bị khinh rẻ nhất, có cuộc sống thấp hèn nhất. Vì vậy từ thế kỷ V tr. CN trở đi những công cụ biết nói này đã tổ chức nhiều cuộc khởi nghĩa. Trong khi đó, nhà nƣớc Aten dựa trên một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào lao động nô lệ.
Nền kinh tế này luôn chứa đựng những xung đột và bất ổn. Đây là một nền dân chủ không có tự do. Nếu bản chất của dân chủ là một không gian tranh luận tự do về việc công nhƣ ta nghĩ ngày nay thì trong một Aten thật sự dân chủ, quảng trƣờng A-go-ra (Agora) phải là nơi để mọi công dân đến phát biểu công khai và tự do về tất cả những gì liên quan đến thành quốc. Nhƣng sự phát biểu ấy còn lại bao nhiêu ý nghĩa nếu chỉ là tự do “nói theo” lãnh tụ, dƣới sự đe dọa bị lôi ra tòa xét xử nhƣ Xôcrát (Socrates) hay bị trục xuất, chỉ vì đã hỏi ngƣời chung quanh thế nào là hiểu biết, là công chính, là dối trá – nghĩa là đặt ra loại câu hỏi gợi lên những sai lầm, khuyết tật và sự tồi tệ của một chế độ mà đảng cầm quyền ở đấy muốn che giấu.
Đó là nơi mà nếu các công dân không thể hiện sự trung thành, chính quyền sẽ buộc họ vào khuôn phép bằng những biện pháp khá cứng rắn, thậm chí tàn nhẫn. Sự cứng rắn đó không chừa một ai: vào thời kỳ nền dân chủ chủ nô Anaxago (Anaxagoras) từng bị đuổi khỏi Aten, Xôcrát bị uống thuốc độc chết và muộn hơn, dƣới thời hậu Alếchxanđơ (Alexander), Arixtốt cũng không tránh khỏi số phận bi thảm.