CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN 1.Tư tưởng biện chứng của Phật giáo Phật giáo là một tôn giáo vô thần, không quan niệm về đấng sáng tạo ra thế giới. Về mặt triết học, Phật giáo có nhiều tư tưởng mang tính duy vật và tính biện chứng sơ khai. Điều đó được thể hiện trong một số nội dung cơ bản sau: a. Tư tưởng vô thường, vô ngã Vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh là một trong ba nguyên lý cơ bản của Phật giáo.
Vô thường theo Phật giáo được hiểu là một biện chứng pháp nói lên được tính chất của mọi sự vật hiện tượng là luôn vận động, biến đổi. Vô thường, không nên hiểu một cách hạn chế là sự thay đổi vị trí trong không gian, mà cần phải hiểu theo nghĩa chung nhất của nó là vận động hay biến đổi. Điều đó được thể hiện trong cách nhìn nhận về thế giới của Phật giáo. Trước hết trong quan điểm về thế giới, Phật giáo cho rằng thế giới chỉ là một dòng biến ảo vô thường, không do một vị thần nào sáng tạo ra cả.
Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật nằm trong vũ trụ) gọi là Pháp giới. Mỗi một pháp (mỗi một sự vật hiện tượng, hay một lớp các sự vật hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn pháp. Như vậy các sự vật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và quy định lẫn nhau. Tác phẩm “thanh dung thực luận” của kinh phật viết: có người cố chấp có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng thường định ra chu pháp, đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều chi phối bởi luật nhân quả, biến hóa vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có Luan van 8 cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn.
Do vậy trong thế giới không có gì là thường hằng, bất biến hay là vô thường. Có hai loại vô thường: Sátna vô thường chỉ sự biến hóa trong từng sátna (đơn vị thời gian của nhà Phật, một ngày 24 giờ có 6.000 sát-na (kṣaṇas) và tương tục vô thường (hay còn gọi là sanh diệt vô thường) chỉ trong một chu kỳ có bốn tướng sinh trụ dị diệt nối tiếp nhau. Vậy sát-na vô thường là gì? Theo Phật giáo, tất cả sự vật không có điểm khởi đầu cũng không có điểm kết thúc. Chúng ta khó nhận biết được: “Một vật phát xuất từ cái không hoặc cái không phát xuất từ một vật nào đó và điều không thể xảy ra nếu có một vật tồn tại thì không thay đổi”.
Trong kinh Pháp Cú (bản kinh Pāli) nói: “Trong bầu trời không có biển cả mênh mông, không có hang động núi lớn, một nơi như thế không thể có sự sống, nơi mà con người có thể trú ẩn và không ai có thể vượt qua sự chế ngự bởi cái chết”. Bởi vì sanh và tử là hai phạm trù đối lập hoàn toàn, tử là sự thay đổi đột ngột và thậm chí làm xáo động tinh thần của người chết cũng như những người đang hiện hữu trong cuộc sống hiện tại, sự thay đổi này tùy thuộc vào sanh, lão, bệnh… Theo Phật giáo, đây là một trong những nỗi thống khổ nhất của con người. Trong triết lý Phật giáo, sát-na vô thường là sự thay đổi liên quan đến cái chết ngụ ý sự vô thường của vạn vật. Mặt khác, ý nghĩa về sát-na vô thường biểu thị sự khác nhau giữa trạng thái sanh và trạng thái tử, giữa sự vật vô tri và vô giác… Trong Luận giải Madhyātānugama về giáo lý Duy Thức, ngài Vô Trước (Asa-ga) đã nói: “Tất cả vạn vật được phát sanh ra do nhiều nguyên nhân hợp lại thành, không có vật nào mà tự nó tạo nên, khi sự kết hợp bị tan rã thì sự hủy diệt theo sau”.
Như cơ thể con người bao gồm bốn yếu tố (tứ đại): đất, nước, gió, lửa; khi tứ đại hợp thành thì đã ngấm ngầm sự hủy diệt bên trong. Đó gọi là sự vô thường của một thực thể sanh diệt. Như vậy, sanh diệt vô thường là sự vô thường nhanh chóng trong từng ý niệm, nó thay Luan van 9 đổi hoàn toàn, cái mà xảy ra bên trong bất cứ một sự vật nào, ngoài sự tập hợp của các pháp thì xuất hiện sự sanh diệt ngay lúc đó. Nghĩa là trong mỗi sự vật khi xuất hiện thì đồng thời đã có mầm mống của sự tan rã, mất đi.
Như vậy, mỗi người, mỗi vật luôn luôn thay đổi và không bao giờ giống nhau, vì hai sự kiện hoạt động tiếp nối nhau. Trong Triết học Phật giáo gọi là “sanh diệt vô thường”, nguyên lý này được giải thích theo quan điểm Phật giáo là bất cứ sự thay đổi nào của vạn vật đều sanh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc. Theo Phật giáo, sở dĩ vạn vật trong vũ trụ biến hóa vô thường là do chúng đều chịu sự chi phối của luật nhân quả. Nhờ đó sự vật trong thế giới biến hóa không ngừng nghỉ theo quá trinh sinh, thành, dị, diệt hay thành, trụ, hoại, không.
Quá trình đó có thể diễn ra trong nháy mắt (một sat-na) hay trong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất. Do vạn vật cứ sinh hóa biến đổi vô thường nên thế giới cũng chỉ là hư ảo, không có thực thể, không có bản ngã (vô ngã). Đạo Phật cho rằng, vạn vật trong vũ trụ vốn không có tính thường hằng nó chỉ là sự “giả hợp” do sự hội đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua cũng là do “ngũ uẩn” (năm yếu tố) hợp lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (tư tưởng), hành (ý muốn thúc đẩy hành động) và thức (ý thức).
“Duyên hợp ngũ uẩn thì là. Duyên tan ngũ uẩn ra thì ta không còn là là ta, là diệt. Quá trình tan hợp, hợp tan của ngũ uẩn do nhân duyên tác động là vô cùng. Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo luật nhân quả không ngừng không nghỉ, cho nên mọi sinh vật cũng chỉ tồn tại tương đối trong khoảnh khắc của dòng biến chuyển vô thường, vô định, vụt mất vụt còn, không có sự riêng biệt, không có cái tôi thường định…” [1].
Như vậy quan điểm của Phật giáo về thế giới mang tính duy vật và biện chứng đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các đấng tối cao, của Thượng đế và cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần nào Luan van 10 sáng tạo ra cả. Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn ngàn hình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhưng nó không dừng lại ở bất kỳ hình thức nào. Trong cách nhìn nhận thế giới của Phật giáo mọi vật trong thế giới luôn vận động, biến đổi không ngừng trong quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và biến mất. Thuyết nhân duyên, luân hồi nghiệp báo Theo triết lý Phật giáo sở dĩ mọi vật trong thế giới đều biến hóa vô thường bởi vì chúng đều chịu sự chi phối của luật nhân quả.
Trong học thuyết nhân quả có ba khái niệm chủ yếu là: nhân (hetu), duyên (pratitya) và quả (phala). Nhân là cái phát động ra ở vật, làm cho nó biến đổi, gây ra một hay nhiều kết quả. Cái được tập kết lại bởi một hay nhiều nhân được gọi là quả. Duyên là điều kiện, là mối liên hệ hay trợ giúp cho nhân biến thành quả.
Duyên không chỉ là một cái gì đó xác định mà còn là điều kiện, sự tương hợp tương sinh nói chung giúp cho vạn pháp sinh thành, biến đổi. Ví dụ: Hạt lúa cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành. Hạt lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những nhân tố đó chính là duyên.
Thuần nhân không sinh ra quả. Hạt lúa không thành cây, nếu không đem gieo. Hạt lúa không thành cơm, nếu không đem xay giã và nấu chín. Nghĩa là nhân có sinh ra quả được hay không còn phụ thuộc vào duyên, có nhân mà không có duyên thì không thể sinh ra quả.
Duyên là điều kiện đủ để nhân có thể thành quả. Nhân ở khía cạnh khác thì lại khác. Thí dụ, muốn có quả cam thì phải có nhân (hạt) cam. Tức nhân nào thì quả nấy.
Học đàn thì biết đàn. Nghĩa là nhân quả phải đồng loại nhau. Do đó, nhân chuyển đổi thì quả cũng chuyển đổi theo. Thế nên dựa vào luật nhân quả ông bà ta khuyên ngắn gọn "làm lành hưởng phước, làm ác mang họa", với ước muốn con cháu ăn hiền ở lành.
Luan van 11 Tuy nhiên sự phân biệt nhân quả chỉ là tương đối, trong nhân có quả, trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại đã hàm chứa cái quả vị lai; cũng chính trong quả hiện tại đã có hình bóng của nhân quá khứ. Một sự vật ta gọi là nhân, là khi nó chưa biến chuyển, hình thành ra cái quả. Một vật đều có nhân và quả; đối với quá khứ nó là quả, nhưng đối với tương lai nó là nhân.
Một vật là nhân của cái này nhưng là quả của cái kia. Nhân và quả đấp đổi nhau, tiếp nối nhau không bao giờ dứt. Nhờ sự liên tục ấy, mà trong một hoàn cảnh nào, người ta cũng có thể đoán biết quá khứ và tương lai của một sự vật hay một người. Sự biến chuyển từ nhân đến quả có khi mau, khi chậm, chứ không phải bao giờ diễn tiến trong một thời gian đồng đều.
Có những nhân và quả xảy ra kế tiếp nhau, nhân vừa phát thì quả xuất hiện, như khi ta vừa đánh xuống mặt trống (nhân) thì âm thanh phát ra (quả), đó chính là nhân quả cùng thời. Nhiều khi nhân gây rồi, nhưng phải đợi một thời gian mới hình thành. Cái thời gian ấy phức tạp vô chừng. Như gieo hạt lúa phải cần thời gian vài ba tháng.
Có khi từ nhân đến quả hàng chục năm, như từ khi đi học (nhân) đến lúc thành tài (quả). Có khi từ nhân đến quả phải đợi một vài trăm năm hay hơn nữa, đây chính là nhân quả khác thời. Vũ trụ nhân sinh luôn chuyển biến vận hành trong mọi thời khắc. Ngay cả bản thân chúng ta, hoạt động tâm lý và tất cả các pháp đang chuyển biến liên tục, không dừng trụ dầu chỉ một sát-na.
Quá khứ, hiện tại và vị lai luôn chuyển biến theo chiều hướng nhân quả.