PHẦN MỞ ĐẦU Người là chủ thể của "cách vật cùng lí" (lý truy tìm đến tận cùng nguồn gốc của sự vật). "Vật" và "lí" là khách thể nhận thức của con người. Trong thực tiến sản xuất, sinh hoạt thương kì, con người đã tích luỹ được những trị thức gắn liền tất nhiên với việc khi nào thì trồng, khi nào thì thu hoạch, khi nào thì cất giữ những loại cây trồng nông nghiệp, tìm hiểu bản chất của tự nhiên và những cái đằng sau của hiện tượng xã hội, nhận thúc và nắm vững quan hệ giữa sự vật với qui luật hoặc bản chất đó là cái hình nhi thượng vượt ra ngoài hình nhỉ hạ, Trong hệ thống phạm trù triết học truyền thống Trung Quốc, "Úí" có tỉnh chất đó. SO GIAI VE PHAM TRU Li Trong quá trình không ngừng tự phủ định hoặc gạn lọc bản thân, lí đã rút ra được những tỉnh hoa của các thời đại 7 và ngày càng làm phong phú và cụ thể hơn, Trong triết học truyền thống của Trung Quốc, về đại thể, lí có mấy nội dung như sau : 1.
Lí là lí trị, đần dần chuyển thành nghĩa qui luật. Nghĩa ban đầu là li trị. "Thuyết văn giải tự" viết : "Li trị ngọc đã" CLí là mài đũa ngọc vậy"). Trong "Thuyết văn hệ truyền hiệu kham kí” (°Ghi chép, hiệu đính các thuyết truyền lại"), Dân Từ Khải viết : "Vật chỉ mạch lí duy ngọc tối mật" (“Mạch lí vân thó của vật chỉ có ngọc là tỉnh tế, chặt chế nhất").
Dựa vào mạch lí để mài đũa, chính là lí. Giống như "Dựa vào li trai” ("Y hồ thiên lí"), mà "Trang Tu” noi dén khi người đầu bếp mổ con bò thi dựa vào vân th thịt (điều lí) của kết cấu tổ chức tự thân của con bò mà đưa lưỡi dao vào khe hở liên kết với xương cốt và ð chố trống của khóp xương. Lí trồi là chỉ qui luật tự nhiên của tự thân sự vật. "Lí trị" iền dẫn đến chố nấm vững ý nghĩa của nó, dựa vào qui luật vốn có của vạn vật trong trời đất.
"Trang Tử" nhấn mạnh đến tính tự nhiên của "lÔí trồi đất", xác lập tính thực tồn của lí tự nhiên. Đó là một bước tiến lón trong sự phát triển tư duy lí luận của loài người. Mặt khác, cho rằng "Vạn vật thù lí” (Vạn vật có lí riêng), mối sự vật đều có qui luật đặc biệt riêng của nó. "Quả Tủ" cho rằng mọi người làm đều phải dựa vào qui luật của sự vật.
Tác dụng tưởng hỗ giữa âm và đương đã thể hiện qui luật cơ bản của sự vận động giữa trồi và đất. Tuân Tủ chủ trương trên cơ sở nhận thức tự nhiên, qui luật xã hội, lợi dụng vạn vật, "chế cát đại lí nhỉ vũ trụ lí hï” (xử lí đại lí, đó là chí lí của vũ trụ vậy). 8 Tự thân sự vật đều có lí của nó. "Có thể biết là cái lí của vat vay" ("Kha di tri, vat chi lí đã").
Qui luật của sự vật có thể nhận thức được. Ông đã nhấn mạnh tính năng động của nhận thức con người. Lí là nghĩa, là lễ. Nhà nho Mạnh Tử cho rằng lí có hàm nghĩa của nghĩa.
Nghĩa của lí là cái tâm của mọi người đều có thể cùng biết, tức là cái tâm trắc ẩn, xấu hổ và căm ghét, khiêm tốn, chối từ, phải trái của nhân, nghĩa, lễ, trí. Lí và nghĩa có sự liên hệ với nhau, lễ hàm chứa ý thúc đạo đức nội tại của chủ thể và hình thức biểu hiện ý thức đạo đức đó - Lễ nghĩa tiết văn. Mạnh Tử cũng coi nó là điều lí của sự vật. Thuyết quái truyện" (Truyện nói về quẻ của Chu Dịch) có viết : "Hoà thuận với đạo đức và li với nghĩa, dốc hết lí, tận cùng tính để đến với mệnh".
Từ nghĩa của lí đạo đức nội tại mà mỏ rộng phát triển hơn nữa thành hai xu hướng : một là, từ chủ thể phát triển đến khách thể, truy cúu đến cùng lí thần điệu của vạn vật, lí đó có thể lí giải thành bản chất hoặc bản thể của sự ; Hai là, phát triển mỏ rộng sang tầng sâu của chủ thể, suy xét kỳ đến cùng tính bẩm sinh vốn có của con người, tức là tính nhân nghĩa. Hai mặt này đều được lí học thoi Tống - Minh phát triển. Tuân Tử cho rằng giữa lế và lí thì cái là vỏ, cái là ruột. Lí là nội dung của lễ, lễ là hình thức của H.
Từ Tiên Tần đến nay, việc tìm hiểu về qui luật tư duy lôgic hầu như có một chút thờ ø sao nhãng. 9 Tuy "Lâ Thị Xuân Thu" có mấy bài "Lí minh", "Lí quả", nhưng chưa đi sâu nghiên cứu thảo luận về lôgic. Những tài liệu khảo cổ khai quật được trong "Hoàng Lão Bạch Thư. Danh lí thiên" đã bổ sung thêm vào tài liệu về mật này.
"Bài viết về lí đanh" đã nêu rõ chủ trương "thẩm tra lí danh", "theo danh mà xem xét về lí". Trong đó tác giả cho rằng vận dụng hình thúc tư duy lôgic như khái niệm, phán đoán, suy lí, đó là biện pháp và con đường tất yếu để có được nhận thức. Chỉ có tuân theo hình thức tư duy lôgic mới có thể nhận thức được chính xác. Hình thức lôgíc và nội dung nhận thức là thống nhất.
Lí là không có hoặc có. Trên quan hệ giữa đanh và thực, giữa cái chung và cái cá biệt, Vương Bật đã phát huy 1í danh. Dùng lí để chỉ thuộc tính chung của sự vật hay qui luật, hoặc cái tất nhiên. Trong kết cấu lôgic triết học này của Vương Bật thì là vô (không có).
Bùi Ngối thi cho rằng lí không phải là vô mà là hữu (có). "Cái thể của lí gọi là có vậy". Hình tích mà lí thể hiện có thể tìm kiếm được. Đó chính là cái thực tại.
Quách Tượng tuy nói có, nhưng lí lại là một lí tự nhiên không có sở vi giả hoặc cái tất nhiên ngự trị và chỉ phối. Ông cho rằng vật nào cũng tự sinh, lí nào cũng tự định, đột nhiên mà sinh, đột nhiên mà diệt. "Li vốn là tự nhiên, không bị mất đi". Giữa các sự vật không liên hệ với nhau, không tác dụng lẫn nhau, tồn tại riêng rẻ.
Thời kỳ Tuỳ và Đường Phật giáo được phát triển chưa từng có. Thiên Đài Tông nói : "Lí thực không". Trí Nghỉ dùng phương pháp quan sát đường Ö giữa 10 song trùng khẳng định và phủ định để nói rõ chân lí của Phật giáo là chân không, không có sinh, không có diệt. Quan Đình coi lí là cái không vô, khó tìm ra cái ý nghĩa sâu xa khó hiểu của nó.
Hoa Nghiêm Tông coi cái "trần không vô tính" là lí, lí sự viên dung (lí và sự tiếp xúc trọn vẹn, hoà tan vào nhau). Duy Thức Tông nói về cái lí duy thức tức cái chân lí, cái đạo lí đạt tối mức của niết bàn chân như. Tất cả mọi hiện tượng trên thế gian đều là sự biến hiện đã biết, không có thế giới khách quan ở một mình ngoài cái biết. Đạo Phật nói hoà hợp nhân đuyên, cho rằng tất cả sự sinh ra và diệt vong đều là sự kết hóp hoặc tiêu tán của điều kiện nhân duyên, tức là không có cái tự tính.
Do đó mà tất cả những hiện tượng của giói tự nhiên đều là không, có thể gợi là lí không. Tư duy tư biện của Phật giáo rất có ảnh hưởng đối vói các nhà lí học. Văn hoá Phật giáo ngoại lai có ảnh hưởng to lớn và phổ biến đối với văn hoá Trung Quốc, văn hoá nhà nho và văn hoá Đạo gia (Đạo giáo) của bản địa, qua hoà trộn tất cả đã sáng tạo ra văn hoá lí học Tống - Minh. Lí học chú trọng nghiên cứu thảo luận về dao thé.
Tit Chu Đôn Di, Trương Tải đến Nhị Trình, các ông đều phải trực tiếp đấu tranh để chọn lựa văn hoá Phật giáo ngoại lai, từ đó mà sáng tạo ra được kết cấu lôgíc triết học cho thuyết lí trồi. Lấy lí làm bản thể cao nhất của tự nhiên, vũ trụ và chuẩn mực cao nhất của đạo đức luân lí làm người. Đồng thồi với việc gạn lọc lí không của Phật giáo và lí hư (lí huyền) của Dao giáo, các nhà lí học thời Tống - Minh đã 11 phân rõ giói hạn giữa lí tròi và lí không, lí hư ; Lí trời là lí thực. Nhị Trình nói : "Cái lí là thực vậy" ("H giả, thực dã”), nó là sự thống nhất giữa có và không có.
Nó vừa là hình nhỉ thượng vượt quá sự vật cụ thể, là sở đĩ nhiên của vạn vật, lại là bản thể ở đằng sau hiện tướng của sự vật, tồn tại ð trong mối một sự vật, thông qua cái cụ thể mới có thể biểu hiện sự tồn tại và công năng của nó, Chu Hi gọi việc học loại lí thực này là "thực học" và hình thành sự đối chiếu rõ ràng vói học không trong lí không, lí hư của Phật giáo và Đạo giáo. Trong lí học thời Tống - Minh, chống đối với các nhà đạo học Trình, Chu coi lí là lí trồi, có Lục Cử Uyên và Vương Thủ Nhân là những nhà tâm lí học, coi lí là tâm. Lục Cử Uyên đề xướng ra "Tâm tức lí", Trần Hiến Chương chủ trương "Tâm và lí là một", đem lí bản thể hợp làm một vói tâm chủ thể. Vương Thủ Nhân tập đại thành của tâm học đã nêu ra "Lương tri của tâm ta tức là Hí trồi", lí là lương tri vốn có trong tâm tức là một loại công năng, thuộc tính hoặc bản thể của tâm.
Ông phản đối Trình Chu tách tâm và lí thành hai. Từ Minh đến Thanh đã đấy lên trào lưu tư tưởng tổng kết lí học mang tính chất phê phán nói chung. Vừa phê phán thuyết lí trời của Trình, Chu, lại công kích cả thuyết "Tâm tức lí" của Lục, Vương. Họ chủ trương rằng lí không tách khỏi khi, lí là lí điều của khí.
La Khâm Thuận, Vương Dinh Tương, Ngô Đình Hàn đều nhấn mạnh lí là lí của khí. Lưu Tông Chu, Hoàng Tông Nghĩa dựa trên quan 12 điểm lí, khí, tâm hợp nhất muốn tổng kết triết học của các phái về thuyết lí bản, thuyết khí bản, thuyết tâm bản của lí học thời Tống - Minh, Vương Phu Chỉ lấy "lí dựa vào khí" để nhấn mạnh lí là thuộc tính của khí và là qui luật vận động của khí và vạn vật. Thất bại của cuộc chiến tranh nha phiến trên ý nghĩa nào đó đã tuyên bố sự đổ võ, phá sản của "lí trời". Văn hoá công nghiệp cận đại của Phương Tây truyền vào đã xung đột với những tư tưởng và quan niệm vốn có của Trung Quốc.