Tư Duy Nghệ Thuật Thơ Việt Nam Giai Đoạn 1975-1985

Tài liệu nghiên cứu Tư duy nghệ thuật thơ việt nam giai đoạn 1975 1985, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

157
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.4. Đóng góp của luận án

1.5. Cấu trúc luận án

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985

2.1. Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985

2.1.1. Những nghiên cứu chung

2.1.2. Những nghiên cứu chung (tiếp)

2.2. Những nghiên cứu chung (tiếp)

3. VẤN ĐỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985

3.1. Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ

3.2. Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật

3.3. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới thơ ca

3.3.1. Khái lược về bối cảnh lịch sử

3.3.2. Nhu cầu đổi mới thơ ca

3.4. Diện mạo thơ nhìn từ lực lượng sáng tạo và các bước ngoặt thơ

3.4.1. Nhìn từ lực lượng sáng tạo đồng hành

3.4.2. Nhìn từ các bước ngoặt chuyển mình

4. TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 NHÌN TỪ HỆ ĐỀ TÀI VÀ CẢM HỨNG THẨM MỸ

4.1. Đề tài chiến tranh với cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa

4.1.1. Nhận thức lại cuộc sống và con người thời chiến

4.1.2. Cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa

4.2. Đề tài hậu chiến với cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng

4.2.1. Nhận thức mới cuộc sống và nhân sinh thời bình

4.2.2. Cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng

4.3. Đề tài tình yêu với cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến

4.3.1. Nhận thức đa chiều về tình yêu và lẽ sống

4.3.2. Cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến

5. TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN

5.1. Điểm nhìn nghệ thuật

5.1.1. Điểm nhìn sử thi - hướng ngoại

5.1.2. Điểm nhìn đời thường - hướng nội

5.2. Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật

5.2.1. Ngôn ngữ ngợi ca và ngôn ngữ tự bạch, đời thường

5.2.2. Giọng điệu lạc quan và giọng điệu triết lý, tự vấn

5.3. Không gian và thời gian nghệ thuật

5.3.1. Sự đa dạng thức về không gian nghệ thuật

5.3.2. Sự đa chiều kích về thời gian nghệ thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975 1985

Giai đoạn 1975-1985 là thời kỳ chuyển tiếp quan trọng trong lịch sử thơ ca Việt Nam. Thơ ca không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện những cảm xúc, tư duy nghệ thuật mới mẻ. Các nhà thơ đã tìm kiếm những hình thức biểu đạt mới, từ đó tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Sự chuyển mình này không chỉ là kết quả của bối cảnh lịch sử mà còn là sự phản ánh nhu cầu đổi mới trong tư duy sáng tác.

1.1. Bối cảnh lịch sử và văn hóa ảnh hưởng đến thơ ca

Bối cảnh lịch sử sau chiến tranh đã tạo ra những thay đổi lớn trong tư duy nghệ thuật. Các nhà thơ đã phải đối mặt với những thách thức mới, từ việc khôi phục đất nước đến việc tìm kiếm bản sắc văn hóa. Điều này đã dẫn đến sự xuất hiện của nhiều đề tài mới trong thơ ca.

1.2. Những đặc điểm nổi bật của tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này

Tư duy nghệ thuật trong thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 thể hiện sự chuyển mình từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư. Các nhà thơ đã bắt đầu khai thác những khía cạnh sâu sắc hơn của cuộc sống, từ những nỗi niềm cá nhân đến những vấn đề xã hội.

II. Những thách thức trong tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975 1985

Giai đoạn này không chỉ có những thành tựu mà còn đối mặt với nhiều thách thức. Các nhà thơ phải tìm cách vượt qua những rào cản về tư tưởng và hình thức để tạo ra những tác phẩm có giá trị. Sự chuyển mình này không hề dễ dàng, và nhiều nhà thơ đã phải đối diện với sự hoài nghi từ cả xã hội và chính bản thân họ.

2.1. Sự hoài nghi và áp lực từ xã hội

Nhiều nhà thơ cảm thấy áp lực từ xã hội khi phải thể hiện những cảm xúc và tư duy mới. Họ phải tìm cách cân bằng giữa việc giữ gìn truyền thống và đổi mới sáng tạo.

2.2. Khó khăn trong việc tìm kiếm đề tài mới

Việc tìm kiếm những đề tài mới trong bối cảnh hậu chiến là một thách thức lớn. Các nhà thơ phải đối mặt với việc làm mới ngôn ngữ và hình thức để phù hợp với nhu cầu của độc giả.

III. Phương pháp nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975 1985

Để nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn này, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê, phân loại, và so sánh để làm rõ những đặc điểm nổi bật của thơ ca trong giai đoạn này.

3.1. Phương pháp thống kê và phân loại

Phương pháp này giúp xác định tần suất xuất hiện của các yếu tố nghệ thuật trong thơ, từ đó đưa ra những luận chứng cụ thể cho các phân tích.

3.2. Phương pháp so sánh và đối chiếu

So sánh thơ giai đoạn 1975-1985 với các giai đoạn trước và sau giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt của tư duy nghệ thuật trong thời kỳ này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975 1985

Nghiên cứu về tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Những kết quả nghiên cứu này giúp làm rõ hơn về sự phát triển của thơ ca Việt Nam trong bối cảnh hiện đại.

4.1. Giá trị của thơ giai đoạn này trong giảng dạy

Các tác phẩm thơ tiêu biểu từ giai đoạn này có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn học Việt Nam.

4.2. Những tác phẩm tiêu biểu và ảnh hưởng của chúng

Nhiều tác phẩm từ giai đoạn này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả và có ảnh hưởng lớn đến các thế hệ nhà thơ sau này.

V. Kết luận và tương lai của tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam

Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 đã tạo ra những nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thơ ca trong những năm tiếp theo. Những giá trị nghệ thuật và tư duy mới mẻ từ giai đoạn này sẽ tiếp tục được khai thác và phát triển trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu tư duy nghệ thuật

Nghiên cứu tư duy nghệ thuật không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thơ ca mà còn góp phần vào việc phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh hiện đại.

5.2. Triển vọng phát triển của thơ Việt Nam trong tương lai

Với những nền tảng đã được xây dựng, thơ Việt Nam có khả năng tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà thơ trẻ.

09/07/2025
Tư duy nghệ thuật thơ việt nam giai đoạn 1975 1985

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 Thơ Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến năm 1985, tuy diễn ra trong thời gian ngắn, đủ tròn một thập niên, nhưng do tính đặc thù về bối cảnh lịch sử và đặc trưng thơ ca mà nó đã thực hiện được một vòng quay, một chu kỳ của sáng tạo và tiếp nhận. Giai đoạn này đã kịp để lại những tác giả và tác phẩm tiêu biểu. Các nhà thơ đã chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người trong tính bản chất và thẩm mỹ của chúng để xây dựng nên những hình tượng thơ, ngôn từ thơ và tư duy thơ mang đặc điểm riêng. Thành tựu thơ giai đoạn này được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và nhận định ở hai cạnh khía chung/ khái quát, riêng/ cụ thể và nâng lên thành những vấn đề có tính lý luận về tư duy thơ, lý luận thơ mang tính đặc thù, xuất phát từ mối quan hệ mới giữa khách thể thẩm mỹ và chủ thể sáng tạo.

Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 1. Những nghiên cứu chung Giai đoạn mười năm (1975-1985) là một giai đoạn lịch sử đặc biệt/ bản lề, đánh dấu sự kết thúc chiến tranh và chuẩn bị bước vào khôi phục và đổi mới của xã hội Việt Nam. Khoảng thời gian này, nhân dân vừa khắc phục hậu quả của chiến tranh, vừa bắt tay xây dựng đất nước trong hòa bình. Văn học thời kỳ sau chiến tranh vừa tồn tại những đặc điểm của văn học sử thi vừa xuất hiện những đặc điểm của nền văn học thời đổi mới.

Thơ giai đoạn này, vì thế, là sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn văn học: văn học chiến tranh, văn học hậu chiến và kéo dài đến văn học đổi mới. Để nhận rõ bước chuyển này trong sáng tạo, thơ trở thành đối tượng quan tâm hàng đầu của giới nghiên cứu. Có khá nhiều công trình, bài viết kết hợp nghiên cứu một cách khái quát nội dung, phương thức nghệ thuật của thơ sau năm 1975 nói chung và cũng có nhiều bài nghiên cứu riêng về thơ giai đoạn 1975-1985. Những bài viết đó tập trung trong các công trình: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận do Phan Cự Đệ chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, 2004), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy của nhiều 7 tác giả (Nhà xuất bản Giáo dục, 2005), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường (Nhà xuất bản Giáo dục, 2009) của Nguyễn Văn Long, Văn học 1975-1985 tác phẩm và dư luận (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1997) của nhóm tác giả Vân Trang, Hoàng Ngô, Bảo Hưng, Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 1998) của Lê Lưu Oanh, Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1995 (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1999) của Vũ Văn Sỹ, Thơ Việt Nam hiện đại (Nhà xuất bản Lao động, 2002) của nhóm tác giả Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ và nhiều công trình khác… Nghiên cứu văn học 1975-1985 với tư cách là một giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ hậu chiến, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra những đóng góp của văn học giai đoạn này trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam.

Trong công trình Nửa thế kỷ thơ Việt Nam, Vũ Tuấn Anh đã nêu một số vấn đề về sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam sau năm 1975, đó là cái tôi tiếp tục âm hưởng sử thi và đối thoại với sử thi. Vũ Tuấn Anh cho rằng: “có một độ chênh nhất định giữa cảm hứng ngợi ca và sự khác biệt của hiện thực đời sống chiến tranh. Ở bề mặt hiện tượng, cái tôi sử thi dường như vẫn tiếp tục quán tính của giai đoạn trước, ít có sự biến đổi. Nhưng ở bề sâu, có thể thấy một sự vận động thầm lặng và bền bỉ của cái tôi trữ tình sử thi nhằm đạt đến một chất lượng và chiều sâu mới” [1,tr.

Tuy nhiên, Vũ Tuấn Anh chỉ khai thác sự vận động chung của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam sau 1975, chứ không chú ý đến thơ giai đoạn 1975-1985 - giai đoạn thơ được các nhà thơ chiếm lĩnh và sáng tác với tư cách là giai đoạn nền tảng để làm nổi bật sự vận động của thơ Việt Nam từ sau 1986 đến nay. Vì vậy, tác giả chưa thấy hết vai trò của thơ giai đoạn này với tư cách là cái gạch nối, là quy luật có tính bước ngoặt. Trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Mã Giang Lân cũng đã điểm qua giai đoạn thơ 1975-1985 để làm nổi bật sự phát triển của thơ sau 1986. Ông cho rằng: “Thơ Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau 1986 bộc lộ rõ ý thức cá nhân “cái tôi” bừng tỉnh, “cái tôi” ý thức về mình, về những vấn đề phong phú của cuộc đời.

Từ đó, kéo theo một loạt các tương quan trong cấu trúc nhân cách: con người trở nên phức tạp và được soi sáng dưới nhiều bình diện” 8 [73,tr. Dù vậy, theo Mã Giang Lân, xét trên bình diện thi pháp, thơ giai đoạn này vẫn theo đà quán tính của thơ trước 1975 ở những nét chính về cảm hứng nghệ thuật và cái nhìn nghệ thuật. Hòa cùng nhận định trên, trong bài viết Thành tựu thơ Việt Nam thời hậu chiến 1975-1985, Mã Giang Lân cũng đã khái quát bước chuyển của thơ từ chống Mỹ cứu nước sang thời kỳ hậu chiến với việc điểm lại các tác giả, tác phẩm chính, từ đó, chỉ ra những cảm hứng lớn trong thơ thời kỳ này. Đó là cảm hứng ca ngợi: “.Trước hết là một thái độ, một rung động chân thành trước thực tế đất nước đang đối mặt với cuộc chiến tranh mới.

Tình cảm công dân, tinh thần yêu nước lại một dịp nữa bùng lên ở mỗi người, nhất là với nhà thơ, có phần nhạy cảm” [76,tr. “Viết về chiến tranh, sự hồi sinh của đất nước, về lao động xây dựng, các nhà thơ hướng tới ca ngợi con người. Con người ở nhiều thế hệ, nhiều hoàn cảnh, tâm trạng với những tâm thế khác nhau. Con người hiện lên đúng như nó tồn tại.

Con người vừa tự hào vừa chấp nhận hy sinh, vừa yên vui vừa lo toan, vừa chủ động vừa chịu đựng” [59,tr. Cảm hứng đời tư thế sự, theo Mã Giang Lân đã chuyển từ hiện thực cách mạng sang biểu hiện hiện thực riêng tư hàng ngày, xuất hiện qua mô típ “tôi một mình, tôi suy tư triết lý về thân phận cá nhân, về cuộc đời” [76,tr. Đây là nhận định có tính khách quan, căn cứ ở mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ, tạo ra đặc điểm thi pháp bổ sung và thi pháp khác so với thơ trước 1975. Trong Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Phạm Quốc Ca cho rằng: lực lượng sáng tác gồm có năm thế hệ và ba kiểu nhà thơ (trữ tình công dân, trữ tình cá nhân, trữ tình thế sự), trong đó “góp phần làm nên diện mạo chính của thơ sau 1975 là lớp nhà thơ trẻ xuất hiện trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước” [13,tr.

Thơ giai đoạn này “cảm hứng đối thoại với một số giá trị sử thi trước 1975 và phi sử thi hóa cho thấy bước tiến mới của thơ về giá trị nhận thức., xu hướng phi sử thi hóa nền thơ còn thể hiện rõ nét sự chuyển hướng sang trữ tình thế sự” [13,tr. “Đặc biệt đáng ghi nhận là ý thức tìm tòi sáng tạo những giá trị mới mẻ, góp phần thúc đẩy hành trình thơ ca nhân loại tiến về phía trước” [13,tr. Dù vậy, tác giả vẫn chưa chỉ ra 9 những giá trị mới mẻ ấy ở những nội dung và hình thức cụ thể nào một cách sáng rõ và đầy đủ. Trong công trình Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975, Nguyễn Văn Long đã chỉ ra những chặng đường phát triển của văn học sau chiến tranh gồm: chặng đường từ 1975 đến 1985, chặng đường từ 1986 đến 1990, chặng đường từ 1990 đến 2005.

Đối với giai đoạn 1975-1985, tác giả đã nêu: “Đây là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học thời kỳ hậu chiến. Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học” [82]. Nguyễn Văn Long cũng cho rằng thơ từ sau 1975 “xuất hiện nhiều dạng thức của cái tôi”, đó là cái tôi thế sự với những cảm xúc khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa, day dứt trước hiện trạng xã hội, nhân thế, đó là cái tôi “đào xới tận cùng bản thể”, cái tôi “được khai thác ở mọi bình diện, tầng bậc, trong mọi mối quan hệ” [82]. Trong một bài viết khác, Thơ sau 1975 - nhìn chung về diện mạo và những đổi mới, Nguyễn Văn Long đã nêu ra một số những khuynh hướng chính trong sự phát triển của thơ từ sau năm 1975, đó là: (1) Tiếp tục mạch cảm hứng sử thi, nhưng thiên về bi tráng và gắn liền với những trải nghiệm, kinh nghiệm cá nhân, (2) Hướng vào đời sống thế sự và trở về với cái tôi cá nhân, (3) Đi sâu vào những vùng mờ của tâm linh, vô thức và đưa thơ theo hướng tượng trưng, siêu thực, (4) Khuynh hướng chú trọng tìm tòi về hình thức đặc biệt là “chữ”.

Đồng thời, ông nhìn nhận và nêu ra một số đổi mới của thơ sau 1975, đó là đổi mới trong quan niệm thơ: “Các nhà thơ và cả người đọc thơ giờ đây nhìn nhận thơ đúng với bản chất, khả năng và giới hạn của nó. Thơ không thể quay lưng lại với thực tại xã hội, nhưng trước hết nó là nhu cầu tự biểu hiện của cá nhân để khám phá bản ngã của mình, cả ở khoảng mù mờ, lộn xộn của tiềm thức, vô thức. Thơ được đặt trở về giữa cuộc đời thực, không đứng cao hơn, mà cũng không thấp hơn với bao nhiêu nhu cầu và các hoạt động tinh thần khác của con người. Đó cũng là một biểu hiện của tinh thần dân chủ hóa trong văn học” [81,tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tư Duy Nghệ Thuật Thơ Việt Nam Giai Đoạn 1975-1985: Nghiên Cứu và Phân Tích" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của thơ ca Việt Nam trong giai đoạn đầy biến động này. Tác giả phân tích các yếu tố nghệ thuật, tư tưởng và bối cảnh xã hội đã ảnh hưởng đến sáng tác thơ, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà nghệ thuật thơ phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong thời kỳ lịch sử đặc biệt.

Bên cạnh đó, tài liệu còn chỉ ra những xu hướng mới trong tư duy nghệ thuật, mở ra hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu và yêu thích thơ ca. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ thơ trên báo nhân dân và tập san giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về thơ ca trên các phương tiện truyền thông, hoặc Luận văn thạc sĩ văn học thơ trên báo nhân dân và tập san giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật, giúp bạn khám phá thêm về tư duy nghệ thuật trong thơ ca. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về nghệ thuật thơ Việt Nam.