Chương I CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐÈ TÀI 1. Khái quát về từ và từ chỉ động, thực vật trong tiếng Việt 1. Khái quát về từ tiếng Việt 1. Từ và cấu tạo từ tiếng Liệt a.
Quan niệm về từ tiếng Liệt Từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ, vì vậy đơn vị này được quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Xuất phát từ những góc nhìn không giống nhau nên các nhà nghiên cứu có những quan niệm chưa thống nhất về từ.Thản (1977) định nghĩa: ‘ir la đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” Theo Nguyễn T. Cẩn (1998) thì : “Từ 1d đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu "-Tác giả chủ trương xem tiếng độc lập là từ và các tổ hợp âm tiết chặt chẽ, cố định đều là từ ghép. Tiếp đó từ ghép được ông chia thành từ ghép nghĩa và từ láy âm.
Châu (1981) cho rằng: “Từ cúa tiếng Liệt là một hoặc một số âm tiết có định, bắt biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tắt cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhắt để cầu tạo câu". Do còn nhiều quan niệm khác nhau và cũng không đi sâu bản luận định nghia vé riz, do vậy chúng tôi chọn quan điểm của tác giá Nguyễn Tài từ trong tiếng Việt làm cơ sở để xác định từ nghề nghiệp. 'Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc xác định ranh giới giữa hai đối tượng từ ghép và cụm từ có định là rất khó rành mạch. Kiểu như: cá sặc zằn, 12 cá lóc nài, rau bồn bẳn, rau hưng lủi.là từ hay là ngữ.
Những đơn vị như. trên đều có chức năng định danh, gọi tên sự vật, phân biệt sự vật. Về lí thuyết, từ được xem là đơn vị có kết cấu chặt chẽ, còn ngữ (trừ thành ngữ) thì đều có. kết cấu lỏng lẻo.
Tuy vậy, trong thực tế, từ và ngữ định danh kết cấu chính - phụ đều mang tính chỉnh thể định danh về nghĩa (đều gọi tên một đối tượng nhằm khu biệt với cá thể khác cùng loại, tạo nên nghĩa biệt loại), điều đó làm cho việc phân biệt từ với ngữ định danh rất khó khăn. Đây là vấn đề rất phức tạp, chúng tôi không đi sâu bàn về ranh giới đâu là từ, đâu là ngữ mà theo cách phân loại sắp xếp thông dụng của từ điển. Điều đó có nghĩa, chúng tôi xem từ là những đơn vị định danh (bao gồm cả cụm từ cố định có nghĩa tương. đương với từ về định danh).
Những đơn vị này sẽ được chúng tôi thống kê vào bảng từ (từ ghép) như cách làm của các nhà ngôn ngữ xếp vào danh mục. Các kiểu cầu tạo từ tiếng Việt Để làm chỗ dựa cho việc phân tích ngữ liệu, chúng tôi đã khảo sát và thống kê ba kiểu cấu tạo từ tương ứng với ba loại từ là từ đơn, từ ghép và từ. Ba kiểu loại cấu trúc hình thức mà chúng tôi lựa chọn dựa trên quan niệm của tác giả Đỗ H. Cụ thể như sau: (1) Từ đơn là những từ một hình vị.
VỀ mặt ngữ nghĩa chúng. không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lĩnh hội và ghỉ nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai tro gi đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ.
Đại bộ phân các từ đơn là từ đơn một âm tiết (ví dụ: cha, mẹ, đi, đứng,., số còn lại là từ đơn đa âm (ví dụ: bù nhìn, Šnh ương, ác là, cà phê, a Xit, a pa tít,. 13 (2) Từ láy là những từ được cắu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đối theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đối theo hai nhóm, gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhỏm thắp: thanh huyễn, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa Theo dé, nếu căn cứ vào số lần tác động của phương thức lay thì có: láy đôi, láy ba và láy bón âm tiết. Dựa vào mức độ âm thanh giữ lại trong âm tiết của hình vi cơ sở, tác gid chia tir May đôi thành: láy toàn bộ và láy bộ phận (lay âm và láy vẫn). (3) Từ ghép “được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhan”.
Căn cứ vào tính chất hình vị, Đỗ H. Châu chia từ ghép của tiếng Việt thành hai loại lớn là từ ghép hư và từ ghép thực. Từ ghép hư là những từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có. Đó là các từ như: bởi vì, tại sao, cho nên,.
Từ ghép thực được tác giả phân chia theo kiểu ngữ nghĩa của từng loại như sau: từ ghép phân nghĩa, từ ghép hợp nghĩa. Do các từ chỉ đông vật , thực vật mà chúng tôi khảo sát, thống kê không có loại cấu tạo từ ghép hư nên chúng tôi không nghiên cứu. Để thuận tiện cho việc trình bảy và cũng để người đọc dễ theo dõi, từ đây chúng tôi tạm thời không dùng tới tên gọi từ ghép hư, từ ghép thực mà chỉ dùng tên gọi ghép” dé chỉ từ ghép thực e. Mô hình cẩu tạo từ tiếng Việt Cũng giống như quan niệm vẻ từ và kiểu cấu tạo từ tiếng Việt, quan niệm về mô hình cấu tạo từ tiếng Việt của các nhà nghiên cứu cũng có sự khác nhau.
Hồ Lê (1976) đã đưa ra khái niệm về mô hình cấu tạo như sau: 14 "Mẫu (hay là mô hình) là cái khuôn cấu tạo của một loạt sự vật hay hiện tượng đằng dạng. Cái khuôn cấu tạo ấy phản ánh những nét chung bản chất nhất về mặt cấu tạo của loạt sự vật hay hiện tượng ấy. Sự cấu tạo cụ thể của từng cái một trong loạt sự vật hay hiện tượng này không thể hoàn toàn giống nhau, nhưng mẫu cấu tạo của chúng lại là một. Theo Hồ Lê, tiêu chí để phân biệt các mô hình cấu tạo từ chính là các đơn vị cấu tạo từ mà ông gọi là nguyên vị.
Trên cơ sở này, tác giả đã đi vào. khảo sát các mô hình cấu tạo từ trong tiếng Việt Tác giả Lê Q. Thiêm (2003) lại cho rằng: “A6 hình cấu tao là cái khuôn đúc mà có thể đưa vào những loại chất liệu, từ đó dé tạo ra hàng loạt các đơn vị khác nhau ” Chúng tôi sử dụng quan niệm của Lê Q. Thiêm làm định hướng nghiên cứu của luận văn.
Trong các loại từ được phân chia theo cấu tạo, ngoại trừ từ đơn, căn cứ vào tiêu chí độc lập hay không độc lập, có nghĩa hay không có. nghĩa của các yếu tố tham gia cấu tao từ (hình vi), chúng ta có ba kiểu mô hình cấu tạo từ trong tiếng Việt là: Kiểu mô hình 1: Thành tổ độc lập (A) + Thành tố độc lập (A) Kiểu mô hình 2: Thành tố không độc lập (B) + Thành tố không độc lập (B) Kiều mô hình 3: Thành tố độc lập (A) + Thành tố không độc lập (B) hoặc: Thành tố không độc lập (B) + Thành tổ độc lập (A). Khi phân tích mô hình cấu tạo từ chỉ động vật, thực vật chúng tôi xem xét dựa trên tiêu chí độc lập và không độc lập của các thành tố tham gia cấu tạo từ để phân tích mô hình. Các lớp từ theo phạm vi sử dung a.
Từ địa phương. Tiếng nói của mọi quốc gia trên thế giới đều là một thể thống nhất mặt bản chất nhưng lại hết sức đa dạng về mặt biểu hiện. Nghĩa là, trong cái thống nhất đó vẫn có những khác biệt giữa các địa phương: có thể là khác biệt về ngữ âm (cách phát âm), lối dùng từ của người dân ở từng địa phương hoặc cũng có thể là sự khác biệt về mặt cấu tạo ngữ pháp. Do đó, mỗi vùng địa lí — dân cư sẽ hình thành một phương ngữ mà địa phương đó sử dụng.
Tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ thống nhất, song trong quá trình phát triển lịch sử đất nước, tiếng Việt dần dần phân chia thành nhiều tiếng địa phương, đặc biệt là trong thời đại phong kiến. Kết quả là, tiếng Việt tồn tại đưới dạng những tiếng. địa phương và giữa tiếng địa phương này với tiếng địa phương khác có những. sự khác nhau nhất định dẫn đến tình trạng cùng một ngôn ngữ nhưng không thật sự thống nhất.
Tuy nhiên, sự khác biệt này không lớn, chủ yếu là khác biệt ở một số yếu tố về mặt ngữ âm và từ vựng. 'VỀ khái niệm từ địa phương, vì có liên quan đến dé tài nên chúng tôi xin nêu ra một vài định nghĩa của các nhà nghiên cứu với những cách hiểu và lí giải khác nhau. Theo tác giá Nguyễn V. Tu (1978) thì “Tie dia phương không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng nhất định, chúng mang sắc thái địa phương, người của địa phương này không hiểu những từ của địa phương khác".
Ö đây, tác giả đã chỉ ra rằng, chính sắc thái riêng của từ địa phương đã tạo ra sự khác biệt trong ngôn ngữ các vùng miền dẫn đến người của địa phương này, đôi khi không hiểu được từ của địa phương khác. Một hướng định nghĩa khác của tác giả Nguyễn T. Giáp (1998): Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc vài địa phương. Nói chung từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn 16 ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học.
Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc. điểm của từ địa phương, đặc điểm của nhân vật. Với định nghĩa này, tác giả đã chỉ ra được giới hạn phạm vi sử dụng của từ địa phương. Còn nhóm tác giả: Mai N.
Chử và cs. (2000) cho rằng: “Những sừ thưộc một phương ngữ (tiếng địa phương nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chi phd biến trong phạm vì lãnh thô của địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương”. Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng từ địa phương là những biến thé tir ngôn ngữ dân tộc đồng thời chỉ ra được giới hạn phạm vi sử dụng của từ địa phương.