phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành 4 chương với 12 tiết. 13 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Thực tế cho thấy rằng, các tài liệu nghiên cứu trong nước về chủ đề liên quan đến luận án còn khá ít, hầu như khó có thể tìm được một cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu nào về lĩnh vực này hay nghiên cứu về một trường hợp cụ thể tại Việt Nam mà có chăng là những bài viết tham luận cho các hội thảo khoa học mà nội dung thường xoay quanh việc giới thiệu chung về khái niệm truyền thông hay TTCS, thực trạng của hoạt động và một số giải pháp để nâng cao năng lực của TTCS tại Việt Nam. Trong khi đó, những vấn đề liên quan này đã được các học giả thế giới khai thác dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Vì vậy mà trong từng nội dung, tài liệu nước ngoài thường sẽ chiếm số lượng lớn hơn so với tài liệu trong nước.
Ngoài ra, tác giả cũng sẽ đưa thêm nhiều công trình tham khảo khác nữa trong những phần tiếp theo của luận án. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về hoạch định chính sách công Với nội dung về HĐCSC, các nghiên cứu ở Việt Nam tương đối nhiều. Những học giả tiêu biểu trong lĩnh vực này có thể kể đến PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, TS.
Đặng Xuân Hoan, TS. Nguyễn Trọng Bình, v. Nội dung chủ yếu xoay quanh các bước thực thi HĐCS và các yếu tố tác động đến quá trình này. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều khai thác nghiên cứu gắn giai đoạn hoạch định với thực thi chính sách công.
Cụ thể như sau: Một trong những công trình nghiên cứu được biết đến nhiều về đề tài này hiện nay phải nhắc tới cuốn sách “Hoạch định và phân tích chính sách công” do PGS.TS Nguyễn Hữu Hải chủ biên. Đây là một tập hợp những nội dung cơ bản về hoạch định và thực thi chính sách. Theo đó, quy trình HĐCSC 14 cần phải trải qua các giai đoạn sau: phân tích bối cảnh HĐCSC; hình thành ý tưởng về chính sách công; dự thảo các phương án giải quyết vấn đề chính sách công; lựa chọn phương án tối ưu; hoàn thiện phương án lựa chọn; thẩm định phương án chính sách công; và quyết định chính sách công. Khi xem xét đến một vấn đề trong quá trình HĐCS cần chú ý tới tính bức xúc của vấn đề cũng như sự phức tạp và tầm quan trọng của nó đối với xã hội [Nguyễn Hữu Hải, 2013, tr.
Thêm vào đó, trong suốt quá trình này cần phải chú ý đến tính thuyết phục đối với đối tượng nhận chính sách, nên tránh các công cụ bắt buộc bởi lẽ khi người dân ý thức được trách nhiệm của mình trong việc tham gia thực hiện chính sách, họ sẽ tự nguyện tham gia vào việc thực hiện mục tiêu chung [Nguyễn Hữu Hải, 2013, tr. Ngoài ra, các tác giả cũng đề cập đến các mô hình HĐCSC và các yếu tố ảnh hưởng tới HĐCSC trong cuốn sách này. Tiếp theo là cuốn sách “Hoạch định và thực thi chính sách công” do nhóm tác giả gồm PGS. Nguyễn Hữu Hải, TS.
Lê Chi Mai, PGS.TS Phạm Đức Chính biên soạn cũng đưa ra các kiến thức quan trọng cơ bản của quy trình chính sách và khai thác ở quá trình hoạch định cùng quá trình thực thi chính sách. Trong cuốn sách này, các tác giả cũng trình bày các khái niệm về hoạch định và thực thi chính sách cùng với quá trình tiến hành HĐCS được thực hiện lần lượt qua các bước: phân tích bối cảnh vấn đề, xây dựng chính sách, xác định mục tiêu chính sách, đề xuất phương án, xây dựng giải pháp cho từng đề xuất, đánh giá, lựa chọn phương án và ban hành chính sách. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở công trình này là các nhà nghiên cứu đã đưa ra các phương pháp HĐCS gồm phương pháp tiến hóa, phương pháp độc lập và phương pháp hỗn hợp. Phương pháp tiến hóa là xây dựng chính sách mới trên cơ sở hoàn thiện chính sách cũ trong khi phương pháp độc lập là việc cho ra đời những chính sách mới chưa từng có trước đây.
Phương pháp hỗn hợp là sự tổng hợp của hai phương pháp vừa nêu, tức là các 15 nhà HĐCS sẽ phân tích những ưu, nhược điểm của các chính sách hiện có nhằm xây dựng một chính sách mới ưu việt hơn [Nguyễn Hữu Hải, 2019, tr. Yếu tố truyền thông nhằm tạo ra sự tự nguyện đối với các đối tượng thực hiện chính sách được đề cập đến trong phần thực thi chính sách. Công tác này nhằm khiến cho họ hiểu được những lợi ích to lớn mà chính sách sẽ mang lại, đồng thời củng cố niềm tin của họ với Nhà nước, từ đó gia tăng sự ủng hộ của người dân với các cơ chế chính sách được ban hành [Nguyễn Hữu Hải, 2019, tr. Khai thác cùng chủ đề như cuốn sách vừa kể trên, bài viết “Quy trình hoạch định chính sách và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực chính sách của đại biểu Quốc hội” của TS.
Nguyễn Trọng Bình, giảng viên Học viện Chính trị khu vực IV trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp thuộc Viện Nghiên cứu Lập pháp - Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đưa ra khái luận về quá trình HĐCSC, tuy nhiên bao gồm ít bước hơn nhóm tác giả do PGS.TS Nguyễn Hữu Hải. Thứ nhất, thiết lập nghị trình chính sách. Trong rất nhiều vấn đề của xã hội cùng nổi lên một lúc hoặc xuất hiện kế tiếp nhau thì nhiệm vụ của người làm chính sách là phải làm sao xác định “đúng” và “trúng” vấn đề nào là cấp thiết nhất để giải quyết trước. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vai trò của các nhà lãnh đạo chính trị, sự kiện nổi bật thu hút sự chú ý của dư luận, ý kiến và phản ánh của người dân, những thông tin được đưa ra bởi các đơn vị truyền thông, v.
Thứ hai, “xây dựng và đề xuất phương án chính sách”. Mục đích của bước này là giải quyết các vấn đề chính sách cụ thể, nó bao gồm việc thiết kế phương án và lựa chọn phương án thích hợp nhất. Thứ ba, hợp pháp hóa chính sách. “Hợp pháp hóa chính sách hay ban hành chính sách được hiểu là cá nhân và cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở quy định của pháp luật tiến hành đánh giá, thẩm tra để thông qua hoặc phê chuẩn phương án chính sách”.
Tất cả dự thảo chính sách đều cần phải qua bước này thì mới có hiệu lực thực thi. Ngoài ra, tác giả của bài viết cũng đưa ra các gợi ý nhằm 16 nâng cao năng lực chính sách của đại biểu Quốc hội ở nước ta bởi lẽ đây là chủ thể quan trọng trong quá trình HĐCSC [Nguyễn Trọng Bình, 2020]. Các học giả nước ngoài đã đề cập đến quá trình HĐCS từ những năm 70 thế kỷ XX. Tuy nhiên, họ thường nghiên cứu cả chu trình chính sách, thay vì chỉ dừng lại ở các bước HĐCS nói riêng.
Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu chuyên sâu và giới thiệu các học thuyết liên quan đến chủ đề này phải kể đến Harold Lasswell (nhà nghiên cứu khoa học chính trị người Mỹ, giáo sư tại đại học Yale, từng là chủ tịch của Hiệp hội Khoa học Chính trị Hoa Kỳ (APSA)) trong cuốn sách “A pre-view of policy sciences” xuất bản năm 1971. Trong công trình này, ông đã đưa ra mô hình của quá trình chính sách gồm 7 bước: hình thành ý tưởng chính sách; hoàn thiện và phát triển ý tưởng; đề xuất chính sách; tham khảo ý kiến; ban hành; chỉnh sửa hoặc hình thành ý tưởng chính sách mới; đánh giá [Lasswell, 1971, tr. Sau đó, nhà nghiên cứu James Anderson (nhà nghiên cứu về kinh tế - chính trị thuộc đại học Boston) đã giới thiệu một mô hình khác chỉ gồm 5 bước trong cuốn sách của mình mang tên “Public policy-making” được xuất bản vào năm 1974. Các bước ở mô hình này gồm: xác định vấn đề; hình thành chính sách; quyết định phương án chính sách; ban hành; đánh giá [Anderson, 1974, tr.
Nghiên cứu về quy trình chính sách được tiếp tục phát triển, hoàn thiện và được khai thác ở nhiều khía cạnh hơn với các học giả giai đoạn sau đó, tiêu biểu như các công trình được giới thiệu dưới đây. Đầu tiên phải kể đến cuốn sách “An introduction to the policy process: theories, concepts, and models of public policy making” của Thomas A. Birkland (nhà chính trị học, giáo sư tại đại học North Carolina, Hoa Kỳ) từ đại học North Carolina của Hoa Kỳ. Cuốn sách này đưa ra các khái niệm chung về chính sách công, quá trình HĐCS, yếu tố truyền thông tác động đến quá trình này, các thành tố tham gia, và phân loại các chính sách.
Theo tác giả, quá trình HĐCS bắt đầu từ việc một vấn đề nổi bật lên trong xã hội. Nó có thể xuất phát từ một 17 sự kiện thu hút sự chú ý của dư luận, hay từ một loạt các công tác vận động của một nhóm người, hoặc từ tin tức được đăng tải liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng, v. Nếu vấn đề đó giành được đủ sự quan tâm, nó sẽ xuất hiện trong chương trình nghị sự. Sau đó, cách giải quyết cho nó sẽ được đưa ra thảo luận (nội dung chính sách được hình thành).
Tiếp đến là việc thông qua chính sách và ban hành. Cuối cùng là đánh giá và có những điều chỉnh cần thiết (nếu có) [Birkland, 2010, tr. Những yếu tố tác động đến quá trình HĐCS gồm có các điều kiện về kinh tế (tốc độ phát triển kinh tế, sự phân bổ giàu nghèo, kích thước của nền kinh tế, v.), chính trị (thể chế, nhiệm vụ và chức năng của các ban, bộ, ngành, v.) và xã hội (đặc điểm của nhóm đối tượng nhận chính sách như cấu trúc tuổi, cấu trúc giới tính, thuộc dân tộc nào, trình độ văn hóa, đặc điểm tại địa phương v. Các nhân tố tham gia vào quá trình này gồm có Quốc hội, chính phủ, các cơ quan lập pháp, các ban bộ ngành liên quan, các cơ quan hành pháp, tòa án, các đơn vị truyền thông, và người dân [Birkland, 2010, tr.
Chỉ tập trung vào cách thức tiến hành, cuốn sách “Public policy making: process and principles” của giáo sư Larry N. Gerston thuộc đại học San Jose - Mỹ khai thác sâu về các bước của chu trình chính sách công, trong đó có các bước đầu tiên thuộc giai đoạn hoạch định. Gerston có chỉ ra các bước gồm: xác định vấn đề, thiết lập chương trình nghị sự, thông qua chính sách bởi những nhà HĐCS, ban hành, và đánh giá.