Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (mã số 9310201.01) của tác giả Nguyễn Thu Trang với đề tài "Truyền thông chính sách trong hoạch định chính sách công và một số gợi ý cho Việt Nam" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thành Lợi và TS. Nguyễn Duy Quỳnh.

Về tính cấp thiết, văn bản luận án xác định truyền thông chính sách (TTCS) đóng vai trò thiết yếu trong chu trình chính sách nhưng trên thực tế tại Việt Nam, hoạt động này còn tồn tại nhiều bất cập, thiếu bài bản và chủ yếu mang tính một chiều từ trên xuống. Công tác truyền thông phần lớn mới chỉ tập trung vào giai đoạn ban hành và thực thi khi chính sách đã thành hình, trong khi giai đoạn hoạch định chính sách công (HĐCSC) – khâu xác định vấn đề và xây dựng phương án – còn bị bỏ ngỏ. Tình trạng này dẫn đến hệ quả là nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng chưa nhận được sự đồng thuận xã hội cao. Sau giai đoạn phòng chống đại dịch COVID-19, nhận thức về vai trò của TTCS được nâng cao, thể hiện qua hội nghị toàn quốc với chủ đề "Nhận thức - Hành động - Nguồn lực" và Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác truyền thông chính sách. Về mặt học thuật quốc tế, dù các cơ sở đào tạo như Đại học Quốc gia Australia (ANU) hay Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã bắt đầu thành lập bộ môn riêng, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về TTCS trong giai đoạn HĐCSC vẫn còn hạn chế và tài liệu chuyên biệt chưa nhiều. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là: trên cơ sở làm rõ các khái niệm và xây dựng khung phân tích về TTCS trong HĐCSC, luận án phân tích các trường hợp cụ thể ở một số quốc gia nhằm rút ra kinh nghiệm tham khảo và khảo sát hoạt động TTCS trong HĐCSC tại Việt Nam hiện nay; từ đó gợi ý giải pháp nâng cao hiệu quả và đề xuất mô hình TTCS trong HĐCSC ở Việt Nam trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 nội dung cụ thể:

  • Một là, làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài.
  • Hai là, xây dựng khung phân tích TTCS trong HĐCSC.
  • Ba là, tham chiếu một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới thông qua những chính sách cụ thể.
  • Bốn là, gợi ý tham khảo từ kinh nghiệm quốc tế và đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, đề xuất mô hình TTCS trong HĐCSC ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Truyền thông chính sách trong hoạch định chính sách công và một số gợi ý cho Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát hoạt động TTCS trong HĐCSC tại Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nigeria và Việt Nam. Mỹ, Đức, Hàn Quốc là các quốc gia điển hình về sự phát triển của TTCS; Trung Quốc có sự tương đồng về hệ thống chính trị với Việt Nam; Nigeria có sự tương đồng về mục tiêu chính sách giao thông (xe buýt nhanh BRT) với trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát chủ yếu từ mốc năm 2001 đến năm 2023. Luận án chọn mốc năm 2001 do sự bùng nổ của Internet (số lượng người dùng toàn cầu tăng từ 16 triệu năm 1995 lên 513 triệu vào tháng 12/2001 theo thống kê của Internet World Stats) và bối cảnh sau sự kiện ngày 11/9/2001 tại Mỹ buộc chính phủ các nước phải đổi mới phương thức truyền thông, chú trọng sự tương tác và phản hồi của người dân thay vì truyền tải thông tin một chiều.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Chương 1 được tác giả phân chia thành 3 nhóm tài liệu chính:

1. Các nghiên cứu về hoạch định chính sách công

  • Tại Việt Nam: Nhóm tác giả PGS.TS Nguyễn Hữu Hải (2013, 2019), TS. Lê Chi Mai, PGS.TS Phạm Đức Chính trong các giáo trình "Hoạch định và phân tích chính sách công", "Hoạch định và thực thi chính sách công" đã phân tích chu trình HĐCSC, phân loại phương pháp hoạch định (tiến hóa, độc lập, hỗn hợp) và chỉ ra vai trò của truyền thông trong việc thuyết phục người dân tự nguyện tuân thủ. TS. Nguyễn Trọng Bình (2020) trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp phân tích quy trình 3 bước (thiết lập nghị trình, xây dựng và đề xuất phương án, hợp pháp hóa chính sách) và nâng cao năng lực của đại biểu Quốc hội.
  • Trên thế giới: Harold Lasswell (1971) với mô hình chu trình chính sách 7 bước; James Anderson (1974) với mô hình 5 bước; Thomas A. Birkland (2010) phân tích các yếu tố tác động (kinh tế, chính trị, xã hội) và các chủ thể tham gia; Larry N. Gerston (2015) phân tích 4 tiêu chí xác định vấn đề ưu tiên (phạm vi, mức độ nghiêm trọng, thời gian, nguồn lực); Habin Lee, Aggeliki Tsohou và Youngseok Choi (2017) nghiên cứu thực nghiệm trên 80 người tại Anh và Thổ Nhĩ Kỳ về áp dụng lý thuyết thuyết phục theo hướng trung tâm và ngoại vi trong tham vấn chính sách; Jennier Curtin và Craig Symes (2020) làm rõ sự tương tác giữa chính phủ, chuyên gia, truyền thông và người dân trong quá trình hoạch định.

2. Các nghiên cứu về truyền thông chính sách

  • Tại Việt Nam: PGS.TS Nguyễn Văn Dững và PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng (2012) phân biệt bản chất giữa "truyền thông" (tương tác hai chiều) và "tuyên truyền" (phổ biến một chiều từ trên xuống). Kỷ yếu hội thảo "Truyền thông chính sách - kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc" (2017) với các bài viết của Đinh Thị Thu Hằng, Dương Thị Thu Hương, Nguyễn Thúy Hà chỉ ra vai trò của báo chí và hạn chế về phân định chức năng giữa các chủ thể tại Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo "Truyền thông chính sách và đồng thuận xã hội" (NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2018) phân tích mô hình truyền thông tại Hàn Quốc, Singapore, Mỹ, Thái Lan. PGS.TS Trần Thị Thanh Thủy (2021) xác định 2 hợp phần của TTCS (giao tiếp và hành động) cùng 6 yêu cầu thực hiện. TS. Lương Ngọc Vĩnh (2021) hệ thống hóa các kênh truyền thông truyền thống và phương tiện số mới.
  • Trên thế giới: Brian McNair (2003) phân tích tác động của TTCS ở 2 cấp độ (phổ biến thông tin và thuyết phục hành động); Lynda Lee Kaid (biên tập, 2004) cùng các tác giả Richard Perloff, Doris Graber, David Weaver, Donald Shaw làm rõ mối quan hệ giữa truyền thông và dư luận; Ralph D. Casey (1944) phân tích các biện pháp gợi ý - khuyến khích, đánh trúng nguyện vọng và đóng khung thông điệp; Hans Buurma (2001) tiếp cận theo hướng tiếp thị chính sách công (public policy marketing); Renee Hobbs (2020) xác định 4 yếu tố tác động đến hiệu quả truyền thông (cảm xúc mạnh, đơn giản hóa nội dung, trúng tâm lý, phản biện công khai các quan điểm đối lập).

3. Các nghiên cứu về truyền thông chính sách trong hoạch định chính sách công

  • Tại Việt Nam: Tuyển tập "Truyền thông chính sách và năng lực tiếp nhận của công chúng" (NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2019) với nghiên cứu của Trương Thế Nguyễn, Nguyễn Văn Lĩnh và Đinh Thị Thu Hằng làm rõ năng lực nắm bắt, đánh giá, giám sát và phản biện của công chúng trong quá trình hoạch định.
  • Trên thế giới: Karl Deutsch (1963) và O. Firestone (1970) đặt nền móng nghiên cứu vai trò truyền thông trong kiểm soát và tiếp thị chính sách. Sigrid Koch-Baumgarten và Katrin Voltmer (2010) phân tích sự tương tác giữa truyền thông đại chúng và quyết định chính trị trong bối cảnh công nghệ số; Gerald M. Kosicki (2003) chỉ ra khả năng thiết lập chương trình nghị sự và định hướng dư luận của truyền thông; Stefaan Walgrave và Peter Van Aelst (2006) phân tích tính bất định và độ trễ trong tác động của truyền thông lên chương trình nghị sự chính trị; Michael Crozier (2007) phân tích cơ chế quản trị tương tác (recursive governance); Hans Mathias Kepplinger (2007) áp dụng lý thuyết phân bổ giải thích sự nhượng bộ của nhà hoạch định trước áp lực truyền thông; Aeron Davis (2007) khảo sát 40 thành viên Quốc hội Anh về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chính trị gia và nhà báo; Bryan D. Jones và Michelle Wolfe (2010) phân tích mức độ tác động thay đổi giữa truyền thông và chủ thể chính sách theo từng giai đoạn; Deserai Crow (2016) nghiên cứu việc sử dụng lý thuyết đóng khung và câu chuyện tường thuật (narratives); Brian McNair (2017) phân tích tác động của truyền thông ở bước xác định vấn đề; Farooq Jan Mangal (2020) nghiên cứu điển cứu về chính sách phòng chống quấy rối tình dục tại Afghanistan.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Văn bản luận án chỉ ra các nghiên cứu quốc tế thường gộp TTCS vào truyền thông chính trị nói chung mà ít tách biệt nghiên cứu chuyên sâu trong HĐCSC; các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận theo hướng một chiều từ trên xuống và tập trung vào khâu thực thi chính sách đã ban hành. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng khung phân tích khoa học về TTCS trong HĐCSC, khảo sát thực nghiệm hai chiều tại Việt Nam và đề xuất mô hình TTCS trong HĐCSC phù hợp với điều kiện thể chế chính trị Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Hệ thống lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án vận dụng các lý thuyết nền tảng của khoa học chính trị và khoa học truyền thông:

  • Lý thuyết về sự định hướng (Agenda-setting Theory): Phân tích cách thức truyền thông lựa chọn vấn đề và hướng sự quan tâm của công chúng cũng như các nhà hoạch định chính sách vào những chủ đề nhất định.
  • Lý thuyết đóng khung (Framing Theory): Phân tích cách thức thông tin chính sách được định hình qua lăng kính, ngôn từ và cấu trúc thông điệp để tác động đến nhận thức của công chúng.
  • Lý thuyết dòng chảy hai bước và đa bước (Two-step and Multi-step Flow Theory): Phân tích vai trò trung gian của những người có ảnh hưởng trong việc lan tỏa thông điệp chính sách đến các nhóm công chúng xã hội.
  • Lý thuyết về sự thuyết phục (Persuasion Theory): Khai thác hai lộ trình thuyết phục (hướng trung tâm và hướng ngoại vi) theo mô hình của Habin Lee và cộng sự.
  • Các mô hình truyền thông: Mô hình truyền thông cổ điển của Shannon và Weaver (Hình 2.1); Mô hình TTCS của Pippa Norris (Hình 2.2); Khung phân tích TTCS trong HĐCSC do tác giả xây dựng (Hình 2.3).
Lý thuyết / Mô hình Nội dung và vai trò ứng dụng trong luận án
Lý thuyết định hướng (Agenda-setting) Phân tích cơ chế đưa vấn đề xã hội vào chương trình nghị sự chính sách
Lý thuyết đóng khung (Framing) Phân tích phương thức xây dựng thông điệp và định hướng cách hiểu của công chúng
Lý thuyết dòng chảy hai bước / đa bước Phân tích kênh truyền dẫn qua thủ lĩnh ý kiến và mạng xã hội
Mô hình Shannon & Weaver Xác định các thành tố cơ bản: nguồn phát, thông điệp, kênh truyền, nhiễu, người nhận
Mô hình Pippa Norris Phân tích mối quan hệ tương tác giữa hệ thống chính trị, truyền thông và công chúng

2. Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp khảo sát thực tế:

  • Phương pháp phân tích tổng hợp nội dung: Thu thập, xử lý và hệ thống hóa các văn kiện, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các tài liệu học thuật trong và ngoài nước.
  • Phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa: Xây dựng các khái niệm công cụ và mô hình phân tích TTCS trong HĐCSC.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các mô hình, quy trình và trường hợp TTCS giữa các quốc gia (Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nigeria) với thực tiễn tại Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích trường hợp (Case study): Phân tích chi tiết 6 chính sách cụ thể tại các nước và các chính sách điển hình tại Việt Nam.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp 4 chuyên gia công tác tại các cơ quan báo chí, Ban Tuyên giáo Trung ương, và Vụ Truyền thông và Thi đua khen thưởng (Bộ Y tế) nhằm làm rõ thực trạng vận hành TTCS tại Việt Nam.
  • Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Điều tra ý kiến của hơn 700 người dân sinh sống tại 7 quận trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Hà Đông, Thanh Xuân, và Đống Đa (thông tin mẫu khảo sát được tổng hợp tại Bảng 4.1).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương 1 hệ thống hóa các công trình học thuật trong nước và quốc tế theo 3 trục nội dung: nghiên cứu về HĐCSC, nghiên cứu về TTCS, và nghiên cứu về TTCS trong HĐCSC. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn nghiên cứu trong nước trước đây xem TTCS là quá trình một chiều phục vụ việc tuyên truyền các quyết định đã ban hành, trong khi tài liệu quốc tế tập trung vào truyền thông chính trị tổng quát. Chương này khẳng định tính cần thiết của việc xây dựng một khung phân tích chuyên biệt và đề xuất mô hình TTCS hai chiều trong giai đoạn hoạch định chính sách tại Việt Nam.

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm cốt lõi: truyền thông chính trị, truyền thông chính sách, và truyền thông chính sách trong HĐCSC. Tác giả phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động này gồm: yếu tố chính trị, các quy định pháp luật về chức năng - nhiệm vụ của đơn vị truyền thông, và các yếu tố kinh tế - xã hội. Luận án phân tích vai trò của TTCS trong việc nhận diện vấn đề, thiết lập chương trình nghị sự, tạo lập diễn đàn phản biện và xây dựng sự đồng thuận; đồng thời xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả của TTCS trong giai đoạn hoạch định. Trên cơ sở tổng hợp mô hình của Shannon & Weaver (Hình 2.1) và mô hình của Pippa Norris (Hình 2.2), tác giả xây dựng Khung phân tích TTCS trong HĐCSC (Hình 2.3).

Chương 3: KINH NGHIỆM TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA

Chương 3 phân tích 6 trường hợp chính sách cụ thể tại 5 quốc gia nhằm trích xuất các bài học thực tiễn:

  1. Đạo luật hạn chế thuốc lá tại Mỹ: Sử dụng truyền thông dựa trên bằng chứng khoa học và câu chuyện thực tế để định hình nhận thức cộng đồng.
  2. Quy định đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 tại Mỹ: Phân tích những xung đột trong thông điệp truyền thông và sự phân cực chính trị ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách.
  3. Chính sách năng lượng hạt nhân của Hàn Quốc: Phân tích quy trình thảo luận công khai và tham vấn dư luận xoay quanh hai lò phản ứng Shin Kori 5 và Shin Kori 6, thể hiện qua số liệu thời gian, số người tham gia (Bảng 3.1), thông điệp kêu gọi (Bảng 3.2), và danh mục các cuộc hội thảo được tổ chức (Bảng 3.3).
  4. Các quy định kiểm soát đại dịch COVID-19 tại Đức: Thực hiện truyền thông minh bạch, dựa trên tư vấn chuyên gia dịch tễ và phản hồi đa chiều.
  5. Xây dựng hệ thống đường riêng cho xe buýt nhanh (BRT) tại Lagos, Nigeria: Truyền thông vận động cộng đồng và giải quyết xung đột lợi ích của các hiệp hội vận tải tư nhân trước khi triển khai.
  6. Chiến dịch tiêm chủng vaccine COVID-19 trên diện rộng tại Trung Quốc: Sử dụng hệ thống thông tin cơ sở và nền tảng số hóa trong việc huy động người dân tham gia.
Quốc gia Chính sách nghiên cứu Nội dung truyền thông và dữ liệu nổi bật
Hoa Kỳ Đạo luật hạn chế thuốc lá Sử dụng bằng chứng khoa học, thông điệp bảo vệ sức khỏe cộng đồng
Hoa Kỳ Quy định đeo khẩu trang phòng COVID-19 Phân tích xung đột truyền thông và sự phân cực dư luận
Hàn Quốc Chính sách năng lượng hạt nhân Quá trình thảo luận công khai về hai lò phản ứng Shin Kori 5 & 6 (Bảng 3.1, 3.2, 3.3)
Đức Quy định kiểm soát đại dịch COVID-19 Cung cấp thông tin khoa học minh bạch, đối thoại chính sách đa tầng
Nigeria Hệ thống xe buýt nhanh BRT tại Lagos Tham vấn cộng đồng và xử lý mâu thuẫn lợi ích với vận tải tư nhân
Trung Quốc Chiến dịch tiêm chủng vaccine diện rộng Kết hợp truyền thông đa phương tiện và vận động trực tiếp tại cơ sở

Từ các trường hợp trên, tác giả rút ra các bài học kinh nghiệm chung: chủ động truyền thông sớm ngay từ khâu dự thảo; xây dựng thông điệp minh bạch, dễ hiểu; phát huy vai trò chuyên gia; lắng nghe và tiếp thu phản hồi xã hội.

Chương 4: TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH TẠI VIỆT NAM, GỢI Ý THAM KHẢO TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Chương 4 khảo sát thực tế quá trình TTCS tại Việt Nam qua các chính sách cụ thể và dữ liệu điều tra thực nghiệm (Bảng 4.1). Tác giả khái quát thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn TTCS tại Việt Nam: hoạt động truyền thông còn chậm trễ so với tốc độ lan truyền thông tin trên mạng xã hội; cơ chế lắng nghe phản hồi của người dân chưa thực sự thông suốt; nhân lực làm công tác truyền thông tại các cơ quan nhà nước còn thiếu tính chuyên nghiệp. Trên cơ sở mô tả mô hình TTCS hiện tại ở Việt Nam (Hình 4.1), tác giả tham chiếu kinh nghiệm quốc tế để đưa ra các khuyến nghị giải pháp và đề xuất mô hình TTCS trong HĐCSC tại Việt Nam theo hướng tương tác hai chiều, tích hợp các nền tảng truyền thông số và phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể (Hình 4.2).


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa các nội dung chủ yếu của TTCS trong HĐCSC; làm rõ sự khác biệt giữa truyền thông một chiều và truyền thông chính sách hai chiều; xây dựng khung phân tích khoa học về TTCS trong HĐCSC; đề xuất mô hình TTCS trong HĐCSC phù hợp với điều kiện và đặc điểm thể chế tại Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh tổng hợp về kinh nghiệm TTCS tại 5 quốc gia đại diện cho các mô hình thể chế và bối cảnh khác nhau; phản ánh thực trạng TTCS trong HĐCSC tại Việt Nam thông qua khảo sát thực nghiệm hơn 700 người dân tại Hà Nội và phỏng vấn sâu 4 chuyên gia; đưa ra hệ thống khuyến nghị và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác TTCS trong giai đoạn hoạch định chính sách công ở Việt Nam thời gian tới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu được xác định từ mốc năm 2001, các dữ liệu khảo sát thực nghiệm bằng bảng hỏi mới chỉ tập trung trên địa bàn thành phố Hà Nội (tại 7 quận nội và ngoại thành) và phỏng vấn sâu đối với 4 chuyên gia thuộc một số cơ quan truyền thông và cơ quan quản lý nhà nước trung ương, chưa mở rộng ra các tỉnh, thành phố khác trên cả nước.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực nghiệm sang các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, cũng như phân tích sâu hơn các chính sách chuyên ngành đặc thù ngoài các trường hợp đã được khảo cứu trong luận án.


Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước: Tham khảo khung phân tích và mô hình đề xuất (Hình 4.2) nhằm đổi mới phương thức truyền thông, tổ chức lấy ý kiến đóng góp của người dân ngay từ khâu dự thảo chính sách theo tinh thần Chỉ thị số 07/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Cán bộ làm công tác truyền thông và báo chí: Nắm bắt các kỹ thuật đóng khung thông điệp, phương thức xử lý khủng hoảng truyền thông và kinh nghiệm thực tiễn từ các chiến dịch truyền thông công tại Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nigeria.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Chính trị học, Quản lý công, Báo chí và Truyền thông: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ tương tác giữa truyền thông và chu trình chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu chủ yếu từ năm 2001?

Văn bản luận án nêu rõ hai lý do: thứ nhất, năm 2001 đánh dấu bước nhảy vọt của Internet toàn cầu (tăng từ 16 triệu người dùng năm 1995 lên 513 triệu người dùng vào tháng 12/2001 theo thống kê của Internet World Stats), làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận và tương tác thông tin; thứ hai, sau sự kiện ngày 11/9/2001 tại Mỹ, chính phủ các nước buộc phải thay đổi chiến lược truyền thông để thuyết phục công chúng, củng cố niềm tin và tăng cường tính minh bạch đối với các chính sách mới.

2. Sự khác biệt cốt lõi giữa truyền thông chính sách và tuyên truyền chính sách theo tác giả là gì?

Dẫn theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Văn Dững và PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng (2012), tuyên truyền là hoạt động một chiều từ trên xuống nhằm giải thích, phổ biến đường lối, chủ trương để người dân tán thành và làm theo; trong khi truyền thông chính sách là quá trình tương tác hai chiều, có sự trao đổi thông tin, tiếp nhận phản hồi và giám sát - phản biện từ phía người dân tác động ngược trở lại cơ quan hoạch định.

3. Mẫu khảo sát thực nghiệm tại Việt Nam trong luận án được thực hiện tại đâu và quy mô như thế nào?

Luận án tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi với hơn 700 người dân sinh sống tại 7 quận trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Hà Đông, Thanh Xuân, và Đống Đa (thể hiện tại Bảng 4.1), kết hợp phỏng vấn sâu 4 chuyên gia tại các cơ quan báo chí, Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Y tế.

4. Luận án khảo cứu kinh nghiệm truyền thông chính sách của những quốc gia nào và qua các trường hợp cụ thể nào?

Luận án khảo cứu 6 trường hợp tại 5 quốc gia: (1) Đạo luật hạn chế thuốc lá tại Mỹ; (2) Quy định đeo khẩu trang phòng COVID-19 tại Mỹ; (3) Chính sách năng lượng hạt nhân đối với hai lò phản ứng Shin Kori 5 và 6 tại Hàn Quốc; (4) Quy định kiểm soát đại dịch COVID-19 tại Đức; (5) Hệ thống xe buýt nhanh BRT tại Lagos, Nigeria; và (6) Chiến dịch tiêm chủng vaccine COVID-19 diện rộng tại Trung Quốc.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Chính trị học của tác giả Nguyễn Thu Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về truyền thông chính sách trong giai đoạn hoạch định chính sách công. Bằng việc kết hợp phân tích tài liệu, khảo cứu điển cứu quốc tế và điều tra thực nghiệm tại Hà Nội, công trình đã chỉ ra những khoảng trống và bất cập của hoạt động truyền thông một chiều tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp khung phân tích khoa học và mô hình truyền thông chính sách hai chiều có giá trị tham khảo cho công tác quản trị công và hoạch định chính sách tại Việt Nam.