CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC TRUNG TÂM VĂN HÓA TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI 1. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…).
Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)… Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó 17 mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 1995: 431]. Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [UNESCO 1989: 5].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr. 1796] thì văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân.
(3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai. Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử.
Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”. Thiết chế văn hóa Cho đến nay khi nói cũng như ngay trong các văn bản chính thức vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Có thể tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau về 18 thiết chế văn hóa. Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân do NXB Tp.
HCM ấn hành năm 2000, “thiết chế” là từ ghép “thiết” là “sắp đặt”, “chế” là “định ra, đặt ra”, thiết chế là điều đặt ra. Theo Từ điển Tiếng Việt của Ban biên soạn chuyên từ điển New Era, do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, phát hành 2005, “thiết chế” đồng nghĩa với “thể chế” [tr.1845], trong đó “thể chế” có hai nghĩa: (1) Cách thức; (2) Chế độ chính trị của một nước. Với cách cắt nghĩa trên, “thiết chế/ thể chế” là từ thuộc phạm trù xã hội có hàm nghĩa “chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội. Nhờ các thiết chế xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng” [tr.
Trong các khái niệm nêu trên đều thống nhất ở chỗ: thứ nhất, thiết chế xã hội bao gồm những cơ quan có nhiệm vụ xác lập những chuẩn mực xã hội, quy tắc xã hội nhằm hướng dẫn, giáo dục cho mọi tổ chức, cá nhân thực hành theo những chuẩn mực xã hội và quy tắc xã hội đã được xác lập; thứ hai, thiết chế xã hội bao gồm cả hệ thống tổ chức, giám sát đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng và đảm bảo sự ổn định đời sống, an sinh xã hội. Thuật ngữ “thiết chế văn hóa” được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hoá ở Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Cũng như thiết chế xã hội, thiết chế văn hóa đảm trách nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa - xã hội, được cấu trúc trong một hệ thống bao gồm: (1) Hệ thống các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa có nhiệm vụ xây dựng những chuẩn mực văn hóa, quy tắc hoạt động văn hóa. (2) Hệ thống thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn các cá nhân và cộng đồng thực thi theo những chuẩn mực xã hội, quy tắc văn hóa đã được xác lập.
19 Theo đó, Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa thể thao, Nhà thiếu nhi, Cung Văn hóa lao động, Bảo tàng, Thư viện… thuộc hệ thống thiết chế thứ hai có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu của cá nhân và cộng đồng. Tương tự như trên, Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp xã phường, khu phố hoặc Nhà văn hóa - Khu Thể thao liên ấp là thiết chế văn hóa cơ sở, tức là thiết chế cấp nhỏ nhất theo phân cấp hành chính (Trung ương, tỉnh/thành, quận/ huyện, xã/phường) hiện nay. Trên cơ sở phân tích trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm về thiết chế văn hóa cơ sở như sau: Thiết chế văn hóa cơ sở là một trung tâm tổ chức, hướng dẫn các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao được diễn ra chủ yếu trong thời gian nhàn rỗi nhằm đáp ứng các nhu cầu vui chơi, giải trí của cá nhân và cộng đồng. Thiết chế văn hóa dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều phải hội đủ bốn yếu tố tạo thành: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động.
Các yếu tố này là điều kiện tiên quyết cho các thiết chế văn hóa thực hiện các chức năng, nhiệm vụ xã hội của nó. Như vậy, trong thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy nhất và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể. Yếu tố cơ sở vật chất ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý bao gồm: nhà văn hóa, khu thể thao ở thôn (ấp) và tương đương; trung tâm văn hóa - thể thao ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh. Yếu tố cơ sở vật chất phải đi liền với trang thiết bị, bộ máy tổ chức, trình độ cán bộ, nguồn kinh phí [7, 25].
Thiết chế văn hóa ở nước ta vận hành theo ba nguyên tắc: tính Đảng, tính hợp hiến và tính nhân dân. Tính Đảng là nguyên tắc quan trọng nhằm đảm bảo định hướng chính trị của Đảng và Nhà nước trong hoạt động văn 20 hóa. Tính hợp hiến nhằm đảm bảo mọi hoạt động văn hóa, thiết chế văn hóa phải tuân theo pháp luật. Tính nhân dân yêu cầu các hoạt động văn hóa phải xuất phát từ các lợi ích của nhân dân, gắn bó thiết thực với đời sống nhân dân, làm giàu đẹp thêm đời sống tinh thần của nhân dân 27, tr.
Chức năng, vai trò của thiết chế văn hóa Theo những khái niệm thiết chế văn hóa ở trên ta thấy, cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy nhất trong hệ thống thiết chế văn hóa và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể. Yếu tố cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa, ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch quản lý bao gồm nhà văn hóa - khu thể thao ở thôn và tương đương, trung tâm văn hóa - thể thao ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, bao gồm: nhà thiếu nhi, cung thiếu nhi hoặc trung tâm hoạt động thanh, thiếu nhi; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ công nhân, viên chức, người lao động bao gồm: nhà văn hóa lao động, cung văn hóa lao động, trung tâm văn hóa - thể thao ở khu chế xuất, khu công nghiệp và trong các doanh nghiệp lớn; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao thuộc các bộ, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang, các cơ sở văn hóa, thể thao được đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hóa, được quy định về nguyên tắc quản lý và định hướng phát triển. Những cơ sở vật chất trên đây phải đi liền với trang thiết bị, tổ chức bộ máy, số lượng và trình độ cán bộ. Có như vậy, hệ thống thiết chế văn hóa mới phát huy hết chức năng và vai trò quan trọng của mình.
Lê Thị Anh thì thiết chế văn hóa có các chức năng và vai trò cụ thể như sau: Trước hết, hệ thống thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi, hưởng thụ, gìn giữ văn hóa, luyện tập thể dục thể thao của các tầng lớp nhân dân.