Chương 1 QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở NAM BỘ 1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở NAM BỘ 1. Điều kiện du nhập và phát triển của Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ Ở Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển của vùng Nam Bộ cho thấy người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc - đa văn hóa của dân tộc Việt Nam. Người Khmer ở Nam Bộ đã cùng tồn tại với người Việt, người Hoa, người Chăm… trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, người Khmer ở Nam Bộ đã gắn bó, đoàn kết với nhau cùng chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền của Tổ quốc.
Quá trình du nhập và phát triển của cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ cũng là quá trình du nhập của Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đó là điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện chính trị và điều kiện văn hóa của vùng. Về điều kiện kinh tế - xã hội Quá trình du nhập của Phật giáo Nam tông Khmer gắn liền với sự khai khẩn, lưu dân của cộng đồng người Khmer buổi đầu mở đất vùng Nam Bộ. Vùng Nam Bộ được xuất hiện khá muộn so với các vùng đồng bằng khác ở nước ta. Nhà địa lý Lê Bá Thảo đã diễn đạt trong tác phẩm Những công trình địa lý tiêu biểu đó là: “Lịch sử phát triển của đồng bằng này có liên quan đến lịch sử phát triển chung của toàn Đông Nam Á, từ các thời kỳ cổ xưa cho đến nay.
Tuy nhiên, chúng ta sẽ chú trọng đến lịch sử này trong kỉ Đệ tứ vì có liên quan đến các đặc điểm hiện đại của đồng bằng này hơn cả. 10 Vào đầu kỷ Đệ tứ (còn gọi là kỷ Nhân sinh do bắt đầu xuất hiện con người) cách đây chừng trên dưới hai triệu năm, toàn bộ Đông Nam Á được nâng lên khỏi mặt biển. Vào thời gian đó đã có thể hình thành các châu thổ - gọi là châu thổ Plêitôxen… vào thời kỳ đó mang vật liệu thô hơn bây giờ nhưng thành phần vật chất của các bậc thềm phù sa cổ ở đông Nam Bộ đã thấy rõ” [86; tr. 526], “dưới sự che chở của các cồn cát duyên hải và của các đồi núi miền Đông Nam Bộ ở phía bắc và dãy Đầu Khấu ở phía Tây Nam, vịnh biển vùng sông Cửu Long được lấp dần, cùng với sự rút lui của mực nước biển.
Nhiều bằng chứng cho thấy rằng cách đây khoảng 2.500 năm đồng bằng sông Cửu Long đã nổi lên mực nước biển” [103; tr. Theo nhà nghiên cứu Lương Ninh thì vùng Nam Bộ Việt Nam hiện nay gắn liền với nước Phù Nam, một quốc gia được hình thành vào những năm đầu Công nguyên. “Địa bàn đó hẳn là một vùng rừng núi phía tây, nay là đất Kirivong có nghĩa là Dòng vua Núi, trên đoạn kéo dài của dãy núi Đầu Khấu, ở kinh độ 1050 - vĩ độ 110, nối liền với dãy đồi rừng trung lưu sông Mê Kông và chủ yếu hẳn là có vùng đồng bằng ven biển, từ Hà Tiên ở phía tây đến Cà Mau ở phía đông, trong đó có cảng thị Ốc Eo. Hơn nữa, vùng đồng bằng ven biển mới là địa bàn chủ yếu, bởi nơi đây có điều kiện tụ cư đông đúc, phát triển kinh tế, cả nông nghiệp, đánh cá và mở cửa giao tiếp với bên ngoài.
Nhờ không ảnh, P. Paris (1941) phát hiện một con kênh thẳng tắp dài 100 km nối cảng thị Ốc Eo với Châu Đốc, một hệ thống kênh cắt ngang, nối trục kênh chính với biển và một chuỗi 5 kênh nối Châu Đốc với núi Ăngkor Borei. Như thế, toàn bộ miền Tây sông Hậu nối với nhau từng ấp, thông ra biển, nối cảng thị với đầu nguồn sông Hậu là sông Châu Đốc, lại nối với núi Ăngkor Borei. Không nghi ngờ gì nữa, toàn bộ miền này với một hệ thống kênh nối liền, mạch lạc, hợp lý và thông với cửa biển chính là lãnh thổ cơ bản, địa bàn ban đầu của vương quốc Phù Nam.
Những đoạn tả đường 11 sông, vị trí trong vịnh lớn, nhà sàn, cây dừa nước… của thư tịch cổ hoàn toàn phù hợp cảnh quan, vị trí của nước Phù Nam. Chính nơi đây chứ không thể nơi đâu khác: miền Tây sông Hậu và miền Nam Việt Nam” [72; tr. Một số nhà nghiên cứu cho rằng sự tồn tại của nước Phù Nam gắn liền với nó chính là nền văn hóa Ốc Eo. Qua các tài liệu khảo cổ học cho thấy, văn hóa Ốc Eo là một nền văn hóa đa dạng, phong phú có trình độ phát triển cao.
Nền văn hóa này, theo các nhà khảo cổ học, cơ bản là kết quả hội tụ của hai truyền thống: văn hóa truyền thống Đồng Nai bản địa và văn hóa Ấn Độ cổ ngoại nhập. Nó là thành quả chung của cộng đồng người đương thời chinh phục vùng sình lầy ven biển, đưa đến sự mở mang thương mại trên sông, tạo nên được một xã hội phát triển, phồn vinh với nhiều điểm cư dân hình thành trên vùng châu thổ thấp. Đến cuối thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên, văn hóa Ốc Eo tàn lụi dần. Các công trình văn hóa Ốc Eo rực rỡ một thời bị vùi lấp trong lòng đất phèn mặn của đồng bằng Nam Bộ.
Nhiều người cho rằng, những nạn ngập lụt và phù sa của vùng đồng bằng Nam Bộ là những tác nhân chính làm hoang phế và vùi lấp nền văn hóa này. Hiện nay, người Khmer đến vùng Nam Bộ Việt Nam từ khi nào vẫn còn là một câu hỏi của lịch sử. Tuy nhiên, căn cứ vào ghi chép trong Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan thì vào thế kỷ XII - XIII vùng Nam Bộ “Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, phần lớn là rừng thấp, cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rập, mây leo um tùm, tiếng chim muông lẫn nhau ở đó.
Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây. Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rợn mà thôi. Trâu rừng hợp thành từng đàn trăm ngàn con tụ tập ở đấy. Lại có giống đất đầy tre dài dằn dặt mấy trăm dặm.
Loại tre đó đốt có gai, măng rất đắng. Bốn mặt đều là núi cao” [80; tr. Cũng từ những ghi chép này có nhiều người 12 khi nghiên cứu người Khmer đều nghĩ rằng, người Khmer đến vùng Nam Bộ Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XII, XIII, XIV thậm chí còn sớm hơn nữa. Như nhà nghiên cứu Mạc Đường trong Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long cho rằng quá trình “di dân tự nhiên đối với lớp cư dân cổ Khmer vào những thời kỳ khác nhau của đầu công nguyên” [103; tr.
179] khi đến vùng đất Nam Bộ Việt Nam. “Vùng đất phía Nam này đã diễn ra quá trình hoang hóa mà nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp là do những chuyển biến trong cơ cấu dân cư, sự không thích ứng với những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa dưới thời Chân Lạp, tình trạng chiến tranh liên miên giữa Chân Lạp và Chămpa trên địa bàn Trung Nam Bộ, và những đợt tấn công của đế quốc Nguyên Mông và các nước Đông Nam Á” [70; tr. 7] … “Trước thế kỷ XV, di dân cơ chế đã diễn ra đối với những lớp cư dân cổ Khmer từ nhiều vùng trên đất nước Campuchia tràn về theo dòng sông Cửu Long để tránh tai họa diệt tộc của bọn vua chúa cầm quyền độc ác và bọn xâm lược Xiêm La” [103; tr. Điều này chứng tỏ rằng “trước khi lưu dân Việt đến lập nghiệp, cư dân Khmer và các dân tộc ít người khác đã sống lẻ tẻ, rải rác trên giồng đất cao, các vùng đồi núi.
Với số lượng cư dân ít ỏi, trình độ kỹ thuật thấp kém, kết quả khai phá, mở đất chưa nhiều” [70; tr. Lê Xuân Diệm khẳng định trong Vài nét về con đường phát triển kinh tế - văn hóa trong buổi đầu lịch sử của vùng đồng bằng sông Cửu Long như sau: “Trong suốt 2000 - 3000 năm trước công nguyên, lớp người đầu tiên đã có mặt khá đông đúc và trù mật tại vùng trên của đồng bằng Cửu Long - Đồng Nai. Nhưng họ chỉ cư ngụ… trên những giồng đất, núi đảo. Có thể nói rằng, chỉ có sự có mặt của người Việt (Kinh) vào thế kỷ XVII, XVIII trở đi cả vùng châu thổ sông Cửu Long mới thật sự được khai phá đồng ruộng, kiến tập các xóm làng, chợ búa” [103; tr.
Cùng với quá trình đó thì “từ thế kỷ X trở đi, biển rút dần, những 13 giồng đất lớn nổi lên ở các vùng Sóc Trăng, Trà Cú, Đồng Tháp Mười (Đồng Tháp), Giồng Riềng (Kiên Giang) đã trở thành những vùng đất màu mỡ. Vào thời kỳ này, người Khmer đang bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ dưới đế chế Ăngkor. Đây cũng là thời kỳ các vua chúa Ăngkor lao vào công cuộc xây dựng những đền tháp to lớn, lộng lẫy, vắt kiện sức của nhân dân lao động. Những người nông dân Khmer nghèo khổ, tìm cách trốn chạy sự bóc lột hà khắc và nạn lao dịch nặng nề của giai cấp phong kiến thống trị, đã di cư về vùng châu thổ sông Cửu Long ngày một đông” [18; tr.
Tại đây, họ chiếm cứ những giồng cát lớn, tổ chức thành những cụm cư trú tập trung theo mối quan hệ dòng tộc và gia đình. Tập quán cư trú này có tác động rất sâu sắc tới khía cạnh tâm lý xã hội và hình thành nên những đặc trưng về kinh tế - xã hội của cộng đồng người Khmer cho đến tận ngày nay. Như vậy, người Khmer ở Nam Bộ và người Khmer ở Campuchia là những nhóm tộc người có chung nguồn lịch sử, tiếng nói và rất gần gũi với nhau về đặc trưng văn hóa tộc người. Nhưng do sống tách biệt lâu dài với nhau, người Khmer ở vùng Nam Bộ Việt Nam đã có những đặc điểm riêng về cư trú, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Từ thế kỷ XVII, những lớp cư dân Việt từ vùng Quảng Ngãi - Trung bộ (thuộc phần đất chúa Nguyễn Đàng Trong) bắt đầu di cư đến khai khẩn đất hoang ở vùng này. Cùng với người Khmer, người Việt đã khai khẩn vùng đất sình lầy hoang vu thành những cánh đồng tươi tốt, làng xóm được mọc lên. Đến cuối thế kỷ XVII vùng cư dân Việt đã phát triển nhanh chóng, để trực tiếp quản lý cư dân, năm 1698 nhà Nguyễn đã tiến hành thiết lập bộ máy cai trị ở đây.