đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải. Hai loại vấn đề ấy tuy có quan hệ với nhau, nhƣng có khác nhau” [66, tr. Giáo sƣ Vũ Khiêu thì quan niệm: “Triết lý là triết học khiêm tốn nói về mình. Triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con ngƣời” [66, tr.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo sƣ Hoàng Trinh lại đƣa ra định nghĩa: “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những ý tƣởng cơ bản đƣợc dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con ngƣời về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phƣơng châm cho sự xử thế và sự xử sự của con ngƣời trong các hành động sống hàng ngày…” [114, tr. Còn theo giáo sƣ Hồ Sỹ Quý thì: “Về đại thể, triết lý có thể và nên đƣợc hiểu là những tƣ tƣởng, quan điểm hay quan niệm…mang tính khái quát cao; đƣợc phản ánh một cách cô đúc dƣới dạng các mệnh đề hoặc các phán đoán thƣờng là trau chuốt về mặt ngữ pháp; và đƣợc sử dụng trong đời sống xã hội với tính cách là những định hƣớng cho hoạt động của con ngƣời về mặt thế giới quan, phƣơng pháp luận hoặc nhân sinh quan” [96, tr. Để hiểu rõ hơn về khái niệm “triết lý”, chúng ta có thể xem xét những quan điểm luận giải về mối tƣơng quan giữa triết học và triết lý. Về điều này, nhìn chung trong giới khoa học Việt Nam có hai luồng ý kiến: một bên cho rằng triết học và triết lý là khác nhau, và một bên cho rằng triết lý là triết học, hay đúng hơn là một hình thái triết học.
Về quan điểm triết học và triết lý là khác nhau có thể kể đến ý kiến của giáo sƣ Trần Văn Giàu nhƣ đã nêu ở trên. Giáo sƣ Hồ Sỹ Quý cũng thể hiện quan điểm này khi cho rằng: “…mặc dù ở ta một số ngƣời đã dịch philosophy là triết lý nhƣng trong tiếng Việt chúng ta đều biết triết lý và triết học là các khái niệm khác nhau, dùng để biểu đạt, phản ánh những đối tượng khác nhau (ngƣời trích nhấn mạnh – PDA)… nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tƣ duy. Nói một cách khác, nếu không phải là tất cả thì trong đa số các trƣờng hợp, triết lý thƣờng thiếu chặt chẽ hơn, phiến diện hơn và có nhiều khả năng chứa đựng mâu thuẫn hơn so với triết học” [96, tr. Có cùng quan điểm, giáo sƣ Phạm Xuân Nam, trong công trình Triết lý phát triển ở Việt Nam – mấy vấn đề cốt yếu (2005) nhận xét: “Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học đề cập đến những vấn 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy (ngƣời trích nhấn mạnh – PDA)…Nhƣng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học” [66, tr.
Về quan điểm triết lý là triết học có thể kể đến ý kiến của giáo sƣ Vũ Khiêu nêu trên. Giáo sƣ Tô Duy Hợp khi bàn về triết lý dân gian cũng khẳng định: “Nếu lấy tiêu chuẩn về trình độ tính lý luận, tính hệ thống, tính khoa học, tính nhất quán lôgíc thì có thể thấy triết học ở cung bậc cao hơn triết lý; bởi vì triết lý có bản tính kinh nghiệm, tiền khoa học, không có tính hệ thống logic chặt chẽ, hoàn chỉnh. Nhƣng nếu lấy tiêu chuẩn khác, chẳng hạn nhƣ tính phổ cập, tính hiệu quả xã hội thực tế.v…thì triết lý tỏ ra thiết thực hơn triết học ; theo nghĩa đó, triết lý có giá trị thực tiễn hơn so với triết học. Nhƣ vậy triết lý và triết học đều cùng một phạm trù đó là thế giới quan (và nhân sinh quan).
Triết học là thế giới quan lý luận, còn triết lý là nhân sinh quan kinh nghiệm (ngƣời trích nhấn mạnh – PDA). Quan hệ giữa triết học và triết lý không quy giản về quan hệ đúng – sai, cao – thấp, hay – dở ; bởi vì theo nguyên lý tƣơng đối trong văn hóa thì còn có quan hệ bổ sung cho nhau” [45, tr. Trong công trình Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam (2013), giáo sƣ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nhìn chung lại, “triết học” và “triết lý” đều bắt đầu bằng chữ “triết” chỉ sự am hiểu, tri thức đại quát, bản chất, thông thái; tiếp theo, một đằng là chữ “học” là học thuyết, khoa học, môn học, khoa đào tạo; một đằng là chữ “lý” là lý lẽ, lý giải, ý sâu xa, một toát yếu, một châm ngôn, rất khái quát…đại thể có thể hiểu “triết lý” là triết học đã được vận dụng vào một trường hợp cụ thể, gắn với cuộc sống thực ở một cấp độ nào đó, trong một phạm vi nào đó (ngƣời trích nhấn mạnh - PDA)” [29, tr. Cũng có quan điểm chiết trung khi xem triết lý vừa thuộc triết học vừa không thuộc triết học: “Nếu hiểu triết học theo nghĩa rộng, nó là môn khoa học về triết, bao gồm tất cả các loại triết, thì nó bao gồm cả triết lý.
Nhƣng nếu hiểu triết học là một hệ thống khái niệm, phạm trù, kết cấu với nhau bằng một logic chặt chẽ nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học thì triết lý không thuộc triết học. Gắn triết học với hệ thống cũng chƣa hẳn đúng, vì trong lịch sử cũng có những triết học phi hệ thống… ở Việt Nam có cả triết học (mặc dù trước kia, ông cha ta 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không dùng từ này và nó nằm trong quan hệ bất phân với sử, văn, tôn giáo) và triết lý mà chúng tôi gọi chung là triết (ngƣời trích nhấn mạnh – PDA)” [33, tr. Qua những quan điểm nêu trên thật khó để phân biệt tƣờng minh triết lý và triết học, bởi không có một thang giá trị, chuẩn mực duy nhất để so sánh triết lý và triết học. Để hiểu triết lý theo tính hệ thống, chúng tôi cho rằng, thực chất thì triết lý là triết học, bởi triết lý và triết học đều diễn đạt cùng một phạm trù thế giới quan và nhân sinh quan.
Chúng đều thể hiện sự tìm tòi, sự suy lý của con ngƣời về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân con ngƣời. Thật dễ để có sự thống nhất về câu nói “Trái đất cung cấp đủ để thỏa mãn nhu cầu của con người, nhưng không đủ thỏa mãn sự tham lam của con người” của Gandhi là một triết lý hƣớng về đạo lý – sự chừng mực trong việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng nhu cầu hợp lý của con ngƣời; nhƣng cũng rất khó phản bác rằng câu nói đó là một mệnh đề lý luận thể hiện nhận thức của con ngƣời về chính lòng tham – một yếu tố trong bản chất của con ngƣời. Nhƣng nếu xét về hình thức biểu đạt thì triết lý và triết học có hình thức biểu đạt khác nhau; bởi triết học thƣờng đƣợc thể hiện bằng hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các nguyên lý có tính trừu tƣợng hóa cao, qua tác tác phẩm đồ sộ. Có thể thấy rõ điều đó trong bất cứ một triết thuyết, một tác phẩm triết học nào, nhất là các triết thuyết, các tác phẩm triết học nổi tiếng nhƣ hệ thống “những nguyên lý cao nhất” về các cặp phạm trù trong Siêu hình học của Aristotle; hệ thống những luận điểm về “ý niệm” và “ý niệm tuyệt đối” trong Lôgích học của Hegel; hay hệ thống những luận điểm về hình thái kinh tế - xã hội trong Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị và bộ Tư bản của Mác.
Còn triết lý thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng những câu, những mệnh đề cô đọng, súc tích, ngắn gọn, nhƣ “Cái gì mà chúng ta học đƣợc ở thời tuổi trẻ thì nó luôn luôn còn mãi” của Cervantes, “Một cuộc sống vô ích là một cái chết trƣớc thời hạn” của Goethe… Hồ Chí Minh cũng đã một số lần trực tiếp sử dụng thuật ngữ “triết lý”. Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (9 – 1923) Ngƣời viết: ở Việt Nam “tiểu tƣ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản…chịu sự chi phối bởi nhiều triết lý, nhƣ là nó hƣớng vào phong trào dân tộc rất vội vã” [73, tr. Trong Báo cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ - một tác phẩm có thể là của Hồ Chí Minh cũng đã nhắc đến thuật ngữ triết lý: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử” [73, tr. Trong Ông Anbe Xarô và bản Tuyên ngôn Nhân quyền, Nguyễn Ái Quốc viết: “Dù rằng sự thực đau lòng nhƣ vậy, nhƣng thế giới rồi cũng quen đi với cái triết lý, cái tính trì độn vốn dĩ, mỗi khi ngƣời ta khuấy lên cái tƣ tƣởng định mệnh của nó” [73, tr.
Trong Đáp từ tại buổi chiêu đãi của Chủ tịch G.Biđôn ở Paris (2 – 7 – 1946), Hồ Chí Minh nói: “Triết lý đạo Khổng và triết lý phƣơng Tây đều tán dƣơng một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ƣ nhân”(nghĩa là điều mà mình không muốn thì đừng làm cho ngƣời khác)” [76, tr. Khi Trả lời phỏng vấn ông L.Hanxen, Chủ bút hãng U.P của Mỹ ở Châu Á (12 – 1955), Ngƣời khẳng định: “Trong chính sách đối ngoại, triết lý hƣớng dẫn chúng tôi là sự thực hiện 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Về chính sách nội trị, triết lý hƣớng dẫn chúng tôi là sự thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ để thực hiện thống nhất đất nƣớc chúng tôi” [82, tr. Nhƣ vậy, có thể thấy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, triết lý là những tƣ tƣởng có tác dụng chỉ đạo cách ứng xử, cách hành động của con ngƣời trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó.
Tóm lại, có thể hiểu, triết lý là những tƣ tƣởng, những luận điểm, quan điểm, phƣơng châm, lý lẽ mang tính khái quát cao, cơ bản và cốt lõi về cuộc sống cũng nhƣ về những hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con ngƣời trong xã hội, có vai trò định hƣớng trực tiếp đối với cuộc sống và những hoạt động rất đa dạng ấy. Về mặt hình thức nó thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng những mệnh đề, những châm ngôn ngắn gọn, súc tích bao chứa ý nghĩa sâu xa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, xã hội và con ngƣời.