Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về tri thức bản địa trong khai thác, sử dụng và bảo tồn tài nguyên thực vật làm thuốc được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên sinh vật phong phú nhờ vị trí nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa. Theo các số liệu kiểm kê lâm nghiệp và thực vật học được tác giả trích dẫn, hệ thực vật Việt Nam ước tính có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, cùng hàng trăm loài nấm, rêu và tảo. Riêng nhóm cây thuốc, các cuộc điều tra của Viện Dược liệu ghi nhận số lượng loài liên tục gia tăng qua các thời kỳ: từ 1.863 loài (năm 1985) lên hơn 2.000 loài, và đạt 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ vào năm 2004. Cùng với xu hướng của thế giới về việc tăng cường sử dụng dược liệu thiên nhiên trong chăm sóc sức khỏe ban đầu (chiếm khoảng 80% dân số các nước đang phát triển theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO), nhu cầu sử dụng thảo dược trong nước gia tăng nhanh chóng.

Tuy nhiên, áp lực khai thác quá mức cùng sự suy giảm diện tích và chất lượng rừng tự nhiên đã dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nhiều loài cây thuốc quý. Tại các vùng miền núi, các cộng đồng dân tộc thiểu số tích lũy được hệ thống tri thức bản địa phong phú về cây thuốc qua nhiều thế hệ nhưng chưa được ghi nhận, tư liệu hóa và đánh giá đầy đủ. Tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang — nơi đồng bào dân tộc Tày chiếm đa số (2.697/3.847 nhân khẩu) — việc lưu giữ tri thức sử dụng cây thuốc chủ yếu dựa trên truyền miệng và kinh nghiệm cá nhân, đứng trước nguy cơ mai một do biến đổi kinh tế - xã hội.

Khóa luận xác định mục đích tổng quát là tìm hiểu, đánh giá và hệ thống hóa tri thức bản địa của người Tày trong việc khai thác, sử dụng và bảo tồn cây thuốc, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên lâm sản ngoài gỗ. Các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Xác định danh mục các loài cây thuốc được cộng đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng tại địa bàn nghiên cứu.
  2. Xác định phương thức khai thác và bộ phận sử dụng làm thuốc của từng loài cây.
  3. Xác định các loài cây thuốc tiêu biểu, có tần suất sử dụng cao trong cộng đồng.
  4. Tổng hợp các bài thuốc dân gian tiêu biểu được dân tộc Tày áp dụng trong điều trị bệnh.
  5. So sánh sự khác biệt về tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc giữa dân tộc Tày và dân tộc Dao tại địa phương.
  6. Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn, phát triển tài nguyên cây thuốc và phát huy tri thức bản địa một cách bền vững.

Đối tượng nghiên cứu là tri thức bản địa về sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng người Tày. Phạm vi không gian được thực hiện tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (tổng diện tích tự nhiên 7.750,96 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 7.016,95 ha). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các khái niệm và cơ sở khoa học về tri thức bản địa và lâm sản ngoài gỗ:

  • Tri thức bản địa: Được định nghĩa theo Nguyễn Thanh Thự và Hồ Đắc Thái Hoàng (2000) là hệ thống nhận thức, hiểu biết về môi trường sống được hình thành từ cộng đồng dân cư tại một nơi cư trú nhất định trong tiến trình lịch sử.
  • Lâm sản ngoài gỗ (NTFPs): Khái niệm theo Trần Ngọc Hải (2000), bao gồm toàn bộ các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng phục vụ nhu cầu con người (dược liệu, tinh dầu, nhựa, thực phẩm...).
  • Cơ sở pháp lý: Các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo tồn tài nguyên gồm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Luật Đa dạng sinh học (2008), Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và Luật Đất đai.

Nghiên cứu kết hợp các phương pháp điều tra thực vật dân tộc học (Ethnobotany) và lâm nghiệp xã hội:

Phương pháp Quy mô / Cách thức thực hiện Nguồn dữ liệu & Mục đích
Kế thừa tài liệu Tổng quan các công trình nghiên cứu, báo cáo kiểm kê dược liệu trong nước và quốc tế. Báo cáo kinh tế - xã hội xã Hà Lang (2017), tài liệu của Viện Dược liệu, CREDEP, WWF, WHO.
Phỏng vấn hộ gia đình Chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên $n = 124$ hộ tại 4 thôn bản: Nà Khán (29 hộ), Cuôn (33 hộ), Tho (28 hộ), Chuông (34 hộ). Thu thập danh mục cây thuốc, tên địa phương, bộ phận dùng, công dụng, cách khai thác và chế biến.
Phỏng vấn bán cấu trúc Phỏng vấn sâu các nhân chứng then chốt (thầy lang, già làng, trưởng thôn). Thu thập công thức 21 bài thuốc dân gian và kinh nghiệm phối ngũ vị thuốc.
Thảo luận nhóm tập trung 02 cuộc thảo luận nhóm (mỗi nhóm $\ge 5$ người) với các thành phần kinh tế, độ tuổi, giới tính. Thẩm tra, khẳng định lại tính chính xác của thông tin; xác định mức độ quý hiếm và khó khăn trong bảo tồn.
Điều tra thực vật học Thu thập mẫu tiêu bản thực địa (3–5 mẫu/loài đối với cây lớn hoặc cây thảo). Ép tiêu bản, xử lý cồn $40^\circ\text{--}45^\circ$, định danh tên khoa học dựa trên Danh lục các loài thực vật Việt Nam.
Phân tích tần suất & Phân hạng bảo tồn Thống kê tần số xuất hiện ($n$), phân hạng đe dọa dựa trên 4 tiêu chí định lượng (thang điểm 0–2). Đánh giá mức độ hữu ích, tính dễ xâm nhập, tính chuyên biệt nơi sống và mức độ tác động sinh tồn.
So sánh tri thức liên dân tộc Phỏng vấn độc lập 04 người cung cấp tin then chốt là người Dao (thầy thuốc, già làng). Đối chiếu cách dùng, loài cây và bài thuốc tương ứng giữa dân tộc Tày và Dao.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ giá trị đa dạng sinh học của hệ thực vật Việt Nam và vai trò của cây thuốc trong y học cổ truyền. Phần này làm rõ việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc không thể tách rời việc lưu giữ tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số tại chỗ. Nội dung xác lập hệ thống 6 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, chỉ rõ ý nghĩa học thuật trong việc rèn luyện phương pháp điều tra thực vật dân tộc học và ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững tại huyện Chiêm Hóa.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật lịch sử nghiên cứu dược liệu và tri thức bản địa trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Trên thế giới: Lược sử từ thời cổ đại (Aristote, Theophraste, Dioscorides), các công trình dược học phương Đông (Lý Thời Trân với Bản thảo cương mục), các nghiên cứu của Liên Xô (Kovalena), Pháp (A. Pétélot) và các nghiên cứu định lượng thực vật dân tộc học tại Ấn Độ (Harsha và cs., Sajem & Gosai 2006, Koushalya Nandan Singh 2013).
  • Trong nước: Điểm lại các cột mốc y học cổ truyền (Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác), các công trình của Lê Trần Đức, Võ Văn Chi, Trần Văn Ơn (2003), Nguyễn Nghĩa Thìn (2001), Đỗ Hoàng Sơn (2008). Tác giả nhận định các nghiên cứu về tri thức cây thuốc của người Tày tại Tuyên Quang còn khoảng trống lớn.
  • Điều kiện khu vực nghiên cứu: Tổng hợp điều kiện tự nhiên, địa hình chia cắt, khí hậu nhiệt đới gió mùa (nhiệt độ trung bình $22\text{--}24^\circ\text{C}$, lượng mưa $1.800\text{ mm}$, độ ẩm 85%), phân bố 12 loại đất chính và đặc điểm dân sinh xã Hà Lang (3.847 nhân khẩu, 9 thôn bản, 88,7% là đồng bào thiểu số).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chi tiết hóa đối tượng, phạm vi và tiến trình nghiên cứu từ tháng 01 đến tháng 05/2018. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp lập mẫu điều tra phân tầng tại 4 thôn (Nà Khán, Cuôn, Tho, Chuông) với tổng số 124 phiếu phỏng vấn hộ gia đình; phương pháp thu mẫu, xử lý mẫu thực vật bằng dung dịch cồn và kẹp mắt cáo; phương pháp xử lý số liệu tần suất và ma trận phân hạng ưu tiên bảo tồn 4 tiêu chí.

Thông tin điều tra theo thôn Tổng số hộ Số hộ phỏng vấn ($n$) Dưới 35 tuổi Trên 35 tuổi Nam giới
Thôn Nà Khán 96 29 19 8 21
Thôn Cuôn 109 33 24 14 19
Thôn Tho 93 28 16 6 22
Thôn Chuông 114 34 17 11 23
Tổng cộng 412 124 76 39 85

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố toàn bộ dữ liệu thực địa thu được tại xã Hà Lang:

  • Đa dạng thành phần loài: Thống kê được 108 loài cây thuốc thuộc 56 họ, nằm trong 3 ngành thực vật: Dương xỉ (Pteridophyta - 2 họ, 2 loài), Hạt trần (Gymnospermatophyta - 1 họ, 1 loài Dây gắm Gnetum montanum), và Hạt kín (Angiospermae - chiếm tuyệt đối). Họ Cúc (Asteraceae) có số loài nhiều nhất với 11 loài (chiếm 8,87%), tiếp đến là họ Đậu (Fabaceae), họ Cam (Rutaceae), họ Gừng (Zingiberaceae). Có 29 họ chỉ ghi nhận 1 loài duy nhất.
  • Loài tiêu biểu: Bảng thống kê tần số xuất hiện xác định các loài có số lần nhắc đến cao nhất: Nhọ nồi, Gấc, Bông mã đề, Sả (13 lần); Tía tô rừng (12 lần); Chuối rừng, Ngải cứu (11 lần); Bò khai, Muồng, Quế, Lá dong, Đơn trắng, Cà độc dược, Gừng (10 lần).
  • Bộ phận sử dụng và phương thức thu hái:
    • Bộ phận dùng: Thu hái cả cây chiếm tỷ lệ cao nhất (28 loài), lá (16 loài), củ (9 loài), rễ (5 loài), vỏ (4 loài), quả (3 loài), hoa (2 loài), thân và rễ (3 loài), lá và rễ (3 loài), các bộ phận khác (35 loài).
    • Cách khai thác: Hái (48 loài, 44,44%), Đào (16 loài, 14,82%), Cắt (13 loài, 12,04%), Chặt/tách/bóc vỏ (12 loài, 11,11%), Đào kết hợp hái (10 loài, 9,26%), Nhổ (9 loài, 8,33%).
  • Kinh nghiệm chế biến và sử dụng: Dạng đun nước uống chiếm đa số (79 loài, tương đương 85,32%), tiếp theo là giã đắp ngoài da (18 loài), và các hình thức khác như tắm, bôi xoa, ngâm rượu, nấu ăn (11 loài).
  • Hệ thống bài thuốc dân gian: Ghi nhận 21 bài thuốc hoàn chỉnh sử dụng phối hợp 72 loài thực vật, điều trị các nhóm bệnh: chăm sóc sản phụ sau sinh (bài thuốc tắm gồm Bình vôi đỏ, Sa nhân, Nghệ đen, Đu đủ gai, Sả, Xoan ta, Khúc khắc, Lan kim tuyến, Tầm gửi nghiến, Tam thất, Găng gai), mụn đinh, nhiệt miệng, hạ huyết áp, xương khớp, sỏi thận, rắn cắn.
  • Đánh giá mức độ ưu tiên bảo tồn và so sánh dân tộc: Phân hạng các loài chịu áp lực khai thác (đào củ/rễ, thu hái toàn phần) có nguy cơ suy giảm sinh khối tự nhiên; phân tích điểm tương đồng và dị biệt giữa người Tày và người Dao về việc khai thác cùng loài cây nhưng áp dụng bài thuốc và chỉ định điều trị khác nhau.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các phát hiện cốt lõi về tính đa dạng loài, đặc điểm tri thức bản địa của người Tày tại xã Hà Lang. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương và ngành lâm nghiệp cần có chính sách bảo tồn nguyên vị (in-situ) các khu rừng tự nhiên có cây thuốc quý, quy hoạch vườn bảo tồn chuyển vị (ex-situ) tại cộng đồng, và hỗ trợ kỹ thuật nhân giống để người dân phát triển mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng nhằm tạo sinh kế bền vững.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu định lượng về tài nguyên cây thuốc và tri thức bản địa của người Tày tại địa bàn điều tra:

Tổng số loài cây thuốc ghi nhận: 108 loài
Chỉ số điều tra Số lượng Tỷ lệ (%) Ghi chú đặc trưng
Tổng số loài cây thuốc 108 loài 100% Thuộc 56 họ thực vật
Hình thức sử dụng: Đun uống 79 loài 85,32% Phương thức chế biến phổ biến nhất
Hình thức sử dụng: Giã đắp 18 loài 16,67% Trị mụn nhọt, vết thương, rắn cắn
Hình thức sử dụng: Khác (tắm, bôi...) 11 loài 10,19% Bài thuốc ngâm rượu, tắm sản phụ
Phương pháp khai thác: Hái 48 loài 44,44% Thu hái lá, búp non, cành nhỏ
Phương pháp khai thác: Đào 16 loài 14,82% Tác động mạnh đến khả năng tái sinh
Phương pháp khai thác: Cắt 13 loài 12,04% Thu thân leo, cành lớn
Phương pháp khai thác: Chặt/bóc/tách 12 loài 11,11% Khai thác vỏ cây, thân gỗ
Phương pháp khai thác: Đào & hái 10 loài 9,26% Khai thác đa bộ phận
Phương pháp khai thác: Nhổ 9 loài 8,33% Nhổ toàn bộ cây thân thảo
Hệ thống bài thuốc dân gian 21 bài - Phối hợp từ 72 loài thực vật

Tác giả đề xuất nhóm giải pháp thực thi bao gồm:

  1. Bảo tồn tại chỗ (In-situ): Tăng cường quản lý 7.016,95 ha đất lâm nghiệp tại xã Hà Lang, bảo vệ nghiêm ngặt các sinh cảnh tự nhiên nơi phân bố các loài quý hiếm như Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus), Bình vôi đỏ (Stephania rotunda), Tam thất, Găng gai.
  2. Bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ) và phát triển kinh tế: Hỗ trợ kỹ thuật nhân giống cây thuốc bản địa, xây dựng vườn thuốc gia đình và mô hình kinh tế nông lâm kết hợp, giảm thiểu áp lực khai thác tận diệt từ rừng tự nhiên.
  3. Bảo tồn tri thức văn hóa: Tư liệu hóa các công thức bài thuốc dân gian của các ông lang, bà mế; phổ biến kiến thức thu hái bền vững (tránh đào cả rễ cây non, hạn chế nhổ toàn phần khi không cần thiết).

Về mặt học thuật, công trình đóng góp bộ tư liệu thực địa có cấu trúc về danh mục tên địa phương (tiếng Tày), tên khoa học, công dụng chữa bệnh và phương thức bào chế đặc thù tại Chiêm Hóa, góp phần bổ sung vào cơ sở dữ liệu thực vật dân tộc học của vùng Đông Bắc Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện và phạm vi khảo sát:

  • Phạm vi thời gian và địa bàn: Nghiên cứu thực hiện trong thời gian 5 tháng (01/2018 – 05/2018) tại 4 thôn của một xã, chưa thể bao quát toàn bộ chu kỳ sinh trưởng theo mùa của tất cả các loài cây thuốc trong năm.
  • Định danh thực vật học: Do đặc thù thu thập mẫu trong điều tra thực vật dân tộc học phụ thuộc vào thời điểm chỉ dẫn của người dân, một số mẫu tiêu bản không thu thập được đầy đủ các cơ quan sinh sản (hoa, quả) tại thời điểm khảo sát, gây khó khăn cho công tác giám định hình thái chi tiết.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng điều tra sang các xã lân cận của huyện Chiêm Hóa; triển khai các phân tích định lượng hoạt chất sinh học, dược lý học thực nghiệm đối với các bài thuốc phối ngũ phức tạp (như bài thuốc tắm sau sinh) và thử nghiệm mô hình nhân giống, thuần hóa các loài cây thuốc có giá trị kinh tế cao.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Lâm nghiệp, Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Dược liệu học: Cung cấp quy trình phương pháp luận chuẩn xác về điều tra thực vật dân tộc học, kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc bảng hỏi, kỹ thuật thu và xử lý mẫu tiêu bản thực địa.
  • Cán bộ nghiên cứu thực vật và bảo tồn đa dạng sinh học: Tham khảo trực tiếp danh lục 108 loài cây thuốc (kèm tên khoa học, tên tiếng Tày, họ thực vật) và bảng ma trận 4 tiêu chí phân hạng mức độ đe dọa của cây thuốc phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn lâm sản ngoài gỗ.
  • Chính quyền địa phương và cán bộ khuyến lâm: Cung cấp căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch quản lý tài nguyên rừng cộng đồng, định hướng phát triển cây dược liệu dưới tán rừng nhằm nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Tuyên Quang.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài cây thuốc và họ thực vật nào chiếm ưu thế nhất?
Nghiên cứu đã ghi nhận 108 loài cây thuốc thuộc 56 họ, phân bố trong 3 ngành thực vật (Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín). Họ Cúc (Asteraceae) chiếm ưu thế lớn nhất với 11 loài (chiếm tỷ lệ 8,87% tổng số loài), trong khi có tới 29 họ chỉ xuất hiện 1 loài duy nhất.

2. Phương thức sử dụng và khai thác cây thuốc phổ biến nhất của người Tày tại xã Hà Lang là gì?
Phương thức sử dụng phổ biến nhất là đun nước uống với 79 loài (chiếm 85,32%), tiếp theo là giã đắp ngoài da (18 loài). Phương pháp khai thác chủ yếu là hái (48 loài, chiếm 44,44%), đào củ/rễ (16 loài, chiếm 14,82%), cắt thân cành (13 loài, chiếm 12,04%) và nhổ cả cây (9 loài, chiếm 8,33%).

3. Những loài cây thuốc nào có tần số được người dân nhắc đến nhiều nhất?
Các loài có tần số ghi nhận cao nhất trong khảo sát gồm: Nhọ nồi (Eclipta prostrata), Gấc (Momordica cochinchinensis), Bông mã đề (Plantago major), Sả (Cymbopogon caesius) cùng được nhắc đến 13 lần; Tía tô rừng (Hyptis suaveolens) được nhắc đến 12 lần; Chuối rừng (Musa coccinea) và Ngải cứu (Artemisia japonica) được nhắc đến 11 lần.

4. Bài thuốc dân gian tiêu biểu của người Tày tại địa phương gồm những thành phần gì và chữa trị bệnh gì?
Một trong những bài thuốc tiêu biểu là bài thuốc tắm cho phụ nữ sau sinh, phối hợp 11 loài thực vật gồm Bình vôi đỏ, Sa nhân, Nghệ đen, Đu đủ gai, Sả, Xoan ta, Khúc khắc, Lan kim tuyến, Tầm gửi nghiến, Tam thất, Găng gai. Nước sắc dùng để uống 1 bát, phần còn lại dùng xông và tắm theo quy trình kiêng cữ truyền thống.

5. Cơ cấu mẫu khảo sát hộ gia đình tại xã Hà Lang được phân bổ như thế nào?
Tác giả đã phỏng vấn ngẫu nhiên phân tầng 124 hộ am hiểu cây dược liệu tại 4 thôn: Thôn Chuông (34 hộ), Thôn Cuôn (33 hộ), Thôn Nà Khán (29 hộ) và Thôn Tho (28 hộ). Mẫu khảo sát gồm 85 người cung cấp tin là nam, 76 người dưới 35 tuổi và 39 người trên 35 tuổi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Ngân đã hệ thống hóa toàn diện tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Tày tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa trong việc nhận biết, khai thác và sử dụng 108 loài thực vật làm thuốc cùng 21 bài thuốc dân gian. Công trình chỉ rõ các nguy cơ suy giảm tài nguyên do phương thức thu hái đào rễ, nhổ toàn cây và áp lực gia tăng dân số. Các phân tích định lượng về tần suất, bộ phận sử dụng và ma trận phân hạng bảo tồn cung cấp cơ sở khoa học xác thực cho các giải pháp bảo tồn nguyên vị, bảo tồn chuyển vị và phát triển kinh tế lâm sản ngoài gỗ bền vững tại vùng Đông Bắc Việt Nam.