Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu chung Hệ thống là một hệ thống lớn kết hợp giữa các bệnh viện với nhau, liết kết với nhau theo thông qua HSBA định dạng theo chuẩn HL7. Vì vậy, hệ thống là sự liên kết giữa các chương trình với nhau đặt cài đặt tại mỗi bệnh viện. Do đó, để xây dựng nên chương trình này tôi đã áp dụng các vấn đề đề sau: Cơ sở lý thuyết: đó là chuẩn quốc tế HL7, chuẩn quốc tế về y tế cho các Hồ Sơ Bệnh Án.
Công nghệ xây dựng chương trình: công nghệ áp dụng ở đây là OpenMRS, Mirth connect, Zip4j, Hapy, MDHT. Chuẩn HL7 Hiện nay, trên thế giới để đặc tả Hồ Sơ Bệnh Án thì đã có chuẩn HL7 đã đặc tả rất chi tiết, hoàn thiện. Trong chuẩn HL7 thì có 2 chuẩn cơ bản là chuẩn HL7 message và Chuẩn HL7- CDA. Lịch sử chuẩn HL7 1.
Lịch sử chuẩn HL7 message Với mục đích cung cấp một quy định chuẩn chung cho việc trao đổi, quản lý và tổng hợp dữ liệu y tế, quản lý các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bằng cách định nghĩa ra một giao thức giữa các hệ thống thông tin y tế khác nhau, tháng 10 năm 1987, tổ chức Health Level 7 đã xây dựng nên một chuẩn riêng cho hệ thống thông tin bệnh viện và trở thành phiên bản đầu tiên. Tới năm 1994, chuẩn này đã được ANSI chính thức công nhận [http://en.org/wiki/HL7]. Cũng từ đó, các phiên bản HL7 v.3 lần lượt ra đời, được cập nhật và phát triển rộng khắp. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương Đình Toan Công nghệ phần mềm Hình 1.1: Lịch sử phát triển HL7 [3] Các phiên bản Phiên bản 1.0: Chuẩn dự thảo phiên bản 1.0 được đưa ra vào tháng 10 năm 1987.
Chuẩn được dùng để trao đổi, hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân, quản lý, chuyển giao và đánh giá các dịch vụ chăn sóc sức khỏe khác. Đặc biệt chuẩn đã cho phép hỗ trợ các dịch vụ đòi hỏi có sự trao đổi giữa các hệ thống.x: Nguyên mẫu của phiên bản 2 được chuẩn bị từ sau phiên bản 1.0 và được giới thiệu lần đầu tiên năm 1988, gồm các phiên bản 2. Phiên bản HL7 v2.x khá đơn giản và thuần túy là chuẩn trao đổi bản tin: bản tin ADT; văn bản quản trị bệnh nhân; báo cáo y tế; tài chính, dịch vụ chăm sóc bệnh nhân,… HL7 v2.5 có thêm những nâng cấp để hỗ trợ tính pháp lý, các cải tiến cho phép liên kết quốc tế để tận dụng hết thế mạnh của chuẩn giao tiếp. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương Đình Toan Công nghệ phần mềm 1.
Lịch sử chuẩn HL7 CDA Chuẩn tài liệu lâm sàng - HL7 CDA là chuẩn tài liệu có cấu trúc. Thông qua chuẩn tài liệu này, sẽ chỉ rõ cho cơ quan quản lý, các cơ sở y tế, các nhà thiết kế phần mềm, phần cứng về tính cấu trúc "Structure" và tính ngữ nghĩa "Semantic" của một tài liệu lâm sàng. Với mục đích hỗ trợ việc trao đổi thông tin giữa các cơ sở y tế, các tổ chức cơ quan liên quan được thuận tiện và chính xác trên môi trường truyền thông rất đa dạng và phong phú hiện nay. Phiên bản CDA Release 1 hay còn gọi (ANSI/HL7 CDA R1.0), được thông qua và công nhận là chuẩn Quốc tế vào tháng 11 năm 2000.
Phiên bản CDA Release 2 (CDA R2) được thông qua tháng 05 năm 2005 bởi American National Standards Institute/ Health Level Seven International (ANSI/HL7). Với sự tân tiến về thiết kế của phiên bản CDA R2, cùng với việc cập nhật các kiểu dữ liệu (Data type), loại bỏ, bổ sung một số thuộc tính (Header Attribute và Section Attribute), sự gắn kết chặt chẽ với mô hình HL7 Reference Information Model (RIM) trong quá trình phát sinh và hình thành tài liệu, sự cho phép tham chiếu và sử dụng các bộ mã tương thích với chuẩn của HL7 (như: chuẩn LOINC, chuẩn SMOMED-CT và ICD 10), sự thay đổi các từ vựng trong nhóm CNE (Code No Extended) và việc bổ sung nhóm từ vựng trong CNE từ nhóm CWE (Code With Extended) đã làm cho CDA R2 có những tính năng mạnh hơn rất nhiều so với phiên bản trước và đồng thời tính ngữ nghĩa trong tài liệu lâm sàng đã được thể hiện một cách rõ nét hơn. Trong khuôn khổ cuốn sách này chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu về chuẩn tài liệu lâm sàng CDA R2 và trong phần trình bày chúng tôi sử dụng thuật ngữ CDA để chỉ tài liệu CDA R2 thay cho việc ghi đầy đủ tên tài liệu. Bên cạnh đó các kiến thức được đề cập có sẽ liên quan tới: tài liệu XML, thiết kế Style Sheet, chuẩn LOINC, chuẩn mã định danh OIDs, chuẩn SNOMED CT, chuẩn ICD 10, chuẩn giao thức truyền tin LLP (Lower Layer Protocol) và các kỹ thuật lập trình JAVA hỗ trợ xử lý tài liệu XML nói chung và kỹ thuật xử lý cho tài liệu CDA nói riêng.
Kiến trúc chuẩn HL7 message Từ giới thiệu về chuẩn HL7 trên, thì tổ chức HL7 đã định nghĩa ra 92 loại bản tin và khoảng hơn 300 loại sự kiện, mỗi bản tin gồm các đoạn bản tin hoặc nhóm đoạn bản tin tạo thành, đoạn bản tin lại được cấu thành từ các trường. Có thể tóm lược như trên hình dưới: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương Đình Toan Công nghệ phần mềm BẢN TIN(Ví dụ: ADT,CRM,OML…) CÁC NHÓM ĐOẠN TIN ĐOẠN TIN(Ví dụ: MSH, PID. EVN…) LOẠI DỮ LIỆU ( Ví dụ:ST,EI, CQ…) CÁC THÀNH PHẦN CON Hình 1.2: Kiến trúc HL7 message 1.1 Đặc tả chi tiết Từ hình vẽ trên, ta đặc tả như sau: Bản tin: Mỗi bản tin bao gồm một nhóm các đoạn bản tin được xắp xếp theo thứ tự đã định nghĩa bởi tổ chức HL7. Ví dụ, ADT – là bản tin về thông tin bệnh nhân; PRE – là bản tin liên quan đến thuốc và mã hóa thuốc; BRA – là bản tin liên quan đến tài chính.
Đoạn bản tin: Mỗi segment trong bản tin là một nhóm logic các trường dữ liệu. Trong bản tin HL7 có những đoạn bắt buộc và có những đoạn tùy chọn. Mỗi segment sẽ được đặt tên và xác định bằng ID của segment đó. Ví dụ, bản tin ADT chứa các đoạn: MSH – đoạn header (xác định địa chỉ nguồn, địa chỉ đích và những thông tin liên quan tới bản tin); EVN – đoạn loại sự kiện (xác định loại sự kiện là nhập viện, chuyển viện hay xuất viện, thanh toán tài chính,…); PID – đoạn mã bệnh nhân.
Các trường: Mỗi trường là một chuỗi các ký tự và nó được xác định bằng đoạn mà nó nằm trong đó và vị trí của nó trong đoạn. Ví dụ, PID-5 là trường thứ 5 trong đoạn mã bệnh nhân; mỗi trường lại chứa các thành phần con. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương Đình Toan Công nghệ phần mềm Loại dữ liệu: Loại dữ liệu giới hạn nội dung và định dạng của trường dữ liệu, một số loại dữ liệu là mã hoặc là kết hợp của các loại dữ liệu khác. Nguyên tắc mã hóa trong HL7 Khuôn dạng bản tin quy định theo nguyên tắc mã hóa của HL7 gồm các trường dữ liệu, các trường này có độ dài thay đổi và được ngăn cách bởi một ký tự ngăn cách trường.
Các nguyên tắc mô tả cách mã hóa của các kiểu dữ liệu trong một trường được quy định riêng. Các trường dữ liệu được kết hợp lại thành các nhóm logic được gọi là các đoạn. Các đoạn được ngăn cách bởi các ký tự phân đoạn. Mỗi đoạn bắt đầu với một giá trị chữ 3 ký tự, giá trị này được nhận dạng trong một bản tin.
Các đoạn có thể là bắt buộc phải có, hoặc tùy chọn, hoặc lặp lại tùy thuộc vào cấu trúc bản tin. Bộ ký tự hiển thị mã ASCII (gồm các giá trị hexa trong khoảng 20 đến 7E) là bộ ký tự mặc định để biểu diễn các bản tin HL7. Sự kiện A01 được dùng trong trường hợp bệnh nhân nhập viện. Sự kiện này được nhập từ hệ thống nhập viện và được gửi tới các khoa/phòngliên quan như: khoa dược, phòng y tá, phòng tài chính, khoa xét nghiệm, khoa chẩn đoán… Với bản tin này, cấu trúc của nó cơ bản như sau (chú ý là không bắt buộc tất cả các thành phần của trường đều phải có.
Ví dụ: bản tin mã hóa theo chuẩn HL7 v2.5 (sự kiện ADT^A01 – bệnh nhân nhập viện) như sau: MSH||STORE|MISSION|MINE|LAUREL|199801181007|security|ADT|MSG00201|||<C R> EVN|01|199801181005||<CR> PID|||PATID1234567||Doe^John^B^II||19470701|M||C|371 MAIN AVE^SAN FRANCISCO^CA^94122-0619||45-681-2888||||||||<CR> NK1||Doe^Linda^E|wife|<CR> PV1||I|100^345^01||||00135^SMITH^WILLIAM^K|||SUR|ADM|<CR> Bản tin được dịch là: Bệnh nhân John B. Doe, II, mã bệnh nhân là 1234567, nam giới, da trắng, sinh ngày 1 tháng 7 năm 1947, sống tại 371 Avenue- Sanfrancisco, nhập viện ngày 18 tháng 1 năm 1998 lúc 10 giờ 05 phút sáng, được bác sỹ William K.Smith xét nghiệm và điều trị. Bệnh nhân được chỉ định 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương Đình Toan Công nghệ phần mềm nằm viện tại giường số 01, phòng 345, tổ chăm sóc 100. Phần thân nhân có vợ là Linda E.
Ứng dụng gửi là Store, bản tin được gửi từ Mission tới ứng dụng nhận là Mine sau khi bệnh nhân nhập viện 2 phút. Kiến trúc chuẩn HL7 CDA 1.1 Tổng quan về kiến trúc HL7 CDA Trong hệ thống HL7, sử dụng CDA (Clinical Document Architecture) là cấu trúc để trao đổi HSBA. Sau đây là cấu trúc chung của CDA: Hình 1.3: Kiến trúc HL7 – CDA [7] CDA được tổ chức dưới dạng file XML. Được trích xuất từ mô hình HL7's central Reference Information Model (RIM), do vậy có khả năng sử dụng lại dữ liệu đối với các labo, nhà thuốc … Đặc tả CDA rất trực quan và có khả năng linh hoạt cao giúp dễ dàng hiện thực hóa đối với các hệ thống phần mềm.
Về cơ bản, các thành phần chính của một tài liệu CDA bao gồm:phần Header và Body. Trong đó phần Body chứa các Sections thông tin riêng biệt. Một section chứa một khối diễn giải và từ 0 đến nhiều các Entry. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương Đình Toan Công nghệ phần mềm 1.2 Cấu trúc Header Phần header của tài liệu được dùng để lưu trữ các thông tin phục vụ việc trao đổi tài liệu lâm sàng giữa các cơ quan tổ chức, ngoài ra thông tin trong phần này còn được dùng phục vụ trong công tác quản lý hồ sơ tài liệu CDA và được dùng để làm căn cứ cập nhật thông tin cho hồ sơ bệnh án điện tử suốt đời cho một bệnh nhân.
Một tài liệu CDA được đặt trong tag gốc <ClinicalDocument> và </ClinicalDocument>, khi đó phần Header được định làm phần nằm giữa từ tag <ClinicalDocument> và tag <structuredBody>, phần thể hiện cấu trúc body của tài liệu được xác định làm phần còn lại của tài liệu (từ tag <structuredBody> đến </ClinicalDocument>). Các thuộc tính trong Header: S Tên thuộc tính Chức năng TT 1ClinicalDocument.id Lưu mã (ID) tài liệu 2ClinicalDocument.