CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm Trang phục Ngô Đức Thịnh (2000) đã phát biểu: “Ăn mặc là tổng hòa của quan hệ giữa con người với tự nhiên, của các quan hệ xã hội. Với thời đại tiền công nghiệp, một nhà văn hóa đã nói: Hãy cho tôi biết anh ta ăn gì và mặc gì, tôi sẽ nói anh ta là ai!” (tr.237) Theo Viện Ngôn ngữ học (2009), “Trang phục là quần áo dùng riêng cho một ngành, một nghề nào đó” (tr.1308) Trần Ngọc Thêm (1999) cho rằng “Trang phục gồm có đồ mặc phía trên, đồ mặc phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức. Theo mục đích, có trang phục lao động và trang phục lễ hội.
Theo giới tính, thì có sự phân biệt trang phục nam và trang phục nữ” (tr.203) Nguyễn Thị Đức (1998) nhận xét “Trang phục là một nhu cầu vật chất rất cần thiết và gắn bó mật thiết “như hình với bóng” trong tất cả mọi hoạt động của con người” (tr. Plax (1982) phát biểu rằng trang phục là một khía cạnh quan trọng của hành vi phi ngôn ngữ, phục vụ nhiều chức năng giao tiếp. 1 Theo Horn và Gural (1981), “Trang phục là lớp da thứ hai thay thế cho bộ lông con bỏ đi trong quá trình tiến hóa.” Theo Watkins (1984), “Trang phục là một môi trường vi mô gần gũi nhất với một người và là một công cụ để điều chỉnh môi trường có thể được di chuyển từ nơi này sang nơi khác và có thể điều chỉnh bằng cách thêm hoặc bớt các lớp.” Theo Bách khoa toàn thư của Nhật Bản tái bản lần 2 (世界大百科事典) “Trang phục là những vật dụng mà con người dùng để che một phần hay toàn bộ cơ thể, cùng với đồ 1 https://bom.to/ZcQvcUvQP9FJIn 15 ăn và nơi sinh sống, trang phục đã trở thành một yếu tố văn hóa để phân biệt con người với các loại động vật khác. Mục đích của trang phục tùy theo từng vùng miền và tùy theo thời đại, và so với các yếu tố khác, nó là yếu tố biến đổi theo sự tiến bộ và thay đổi của xã hội, điều này làm cho đời sống quần áo của con người trở nên phong phú.”2 Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia bản Nhật, “Trang phục là vật dụng mặc trên cơ thể.
Trang phục được phát triển để bảo vệ, làm đẹp cơ thể con người, thể hiện địa vị xã hội,.và là một trong những thành phần chính của văn hóa nhân loại. Điển hình nhất là trang phục là sản phẩm của dệt may từ những những miếng vải được tạo hình và may vá. Bên cạnh đó trang phục còn là những sản phẩm không chỉ để mặc mà còn được được sử dụng trên cơ thể. Ngoài thuật ngữ 被服 (bị phục) có nghĩa là trang phục, trong từ điển tiếng Nhật còn có những thuật ngữ sau đây là 衣服 (y phục) 衣 (y) ,服 (phục), 衣類 (y loại), 衣料品 (y liêu phẩm), 着物 (trước vật) là một thuật ngữ chung cho những thứ bao bọc cơ thể.
Trong đó, Kimono có nghĩa cổ điển đồng nghĩa với quần áo, nhưng trong thời hiện đại, nó chủ yếu đồng nghĩa với trang phục của Nhật Bản”3 Trang phục bao gồm tất cả “những gì con người mang khoác trên cơ thể, kể cả đồ đội đầu, đồ đi đưới chân, đồ đắp lên mặt, và những gì được sử dụng kèm theo quần áo”. Về đại thể trang phục gồm có: - Quần áo; - Nón, mũ, khăn; - Giày, dép, guốc; - Găng, tất; - Thắt lưng, túi xách, ví tay… - Đồ trang sức; - Mỹ phẩm.jp/word/%E8%A1%A3%E6%9C%8D-32044 3 https://ja.org/wiki/%E8%A2%AB%E6%9C%8D 16 Trong số các trang phục, quan trọng nhất là quần áo vì nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tủ trang phục của mỗi người. (Trần Thúy Bình, 2005) Như vậy, từ các quan niệm về trang phục, trang phục gồm có hai đặc điểm chính. Đặc điểm thứ nhất, trang phục đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người.
Trang phục không chỉ bảo vệ thân thể, cùng với chức năng thẩm mỹ giúp làm đẹp cho cơ thể. Đặc điểm thứ hai, trang phục phản ánh những đặc trưng văn hóa và nhận thức xã hội của dân tộc. Do mỗi quốc gia và khu vực có những khác biệt về lịch sử, địa lý, phong tục và tập quán… nên trang phục cũng khác nhau. Trang phục luôn thay đổi để phù hợp với môi trường sống tự nhiên, điều kiện xã hội và những thay đổi trong quá trình lịch sử qua đó thể hiện cách ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội.
Bên cạnh đó, trang phục giúp nhận biết đẳng cấp xã hội của người mặc. Do vậy, trang phục là một yếu tố văn hóa phản ánh những đặc trưng địa lý, lịch sử, phong tục tập quán của dân tộc. Thuật ngữ “Kimono” với nghĩa hẹp để chỉ một loại trang phục truyền thống Nhật Bản Wafuku (和服- Hòa phục) dành cho cả phụ nữ lẫn cả nam giới, có độ dài từ cổ đến gót chân, hai ống tay áo hình chữ nhật và có thắt lưng vải quấn quanh. Wafuku còn được sử dụng như một thuật ngữ chỉ trang phục dân tộc mang tính đối lập với trang phục phương Tây Yofuku ( 洋服- Âu phục) Bách khoa toàn thư Microsoft Encarta (2003) viết: “Kimono - áo choàng dài và một loại trang phục truyền thống của Nhật Bản.
Mặc dù bây giờ hầu hết người Nhật đều mặc quần áo phương Tây, nhưng vào ngày lễ và những dịp đặc biệt khác người Nhật đều mặc Kimono. Những người phụ nữ Nhật mặc áo Kimono cùng với một sợi dây đai gọi là Obi”. 17 Các loại trang phục trong lễ cưới truyền thống Nhật Bản - Cha mẹ cô dâu, chú rể Cha của cô dâu và chú rể thường mặc Haori hakama có gắn huy hiệu. Họ là một phần quan trọng của nghi lễ cưới Thần đạo, tham gia vào các nghi lễ khác nhau với cô dâu chú rể.
Mẹ của cô dâu chú rể mặc trang phục Tomosode màu đen trang trọng đính 5 gia huy của dòng họ. - Anh chị em trong gia đình Trang phục dự lễ cưới của anh chị em trong gia đình tùy thuộc vào việc họ chưa lập gia đình hay đã có gia đình và độ tuổi của họ. Anh trai hay em trai thường mặc những bộ vest đen và cà vạt đen. Anh em trai chưa lập gia đình và mới đi làm thường dùng một bộ vest tối màu.
Em trai còn trong lứa tuổi học sinh thì có thể mặc đồng phục để dự lễ. Đối với chị em gái chưa lập gia đình thì sẽ chọn Furisode. Còn trường hợp chị em gái đã lập gia đình họ thường chọn Tomesode màu khi tham gia đám cưới. Trong trường hợp chọn trang phục phương Tây, họ sẽ chọn một chiếc váy công sở hoặc váy dạ tiệc.
- Họ hàng Khi họ hàng tham dự lễ cưới thì trang phục của họ tương tự như một khách mời với quần áo lịch sự phù hợp với dịp trang trọng. Phụ nữ họ hàng cũng tham dự lễ cưới Thần đạo thì họ chọn trang phục truyền thống. Những người phụ nữ đã có gia đình như cô và bà thường mặc Tomesode đen hay Homongi. Tuy nhiên, đối với những người trẻ tuổi, có thể mặc với họa tiết và gam màu trẻ trung hơn thì chọn Tomesode màu.
Nam giới thường chọn vest đen hay vest sẫm màu. Đối tượng tham gia tiệc cưới vẫn trong độ tuổi đi học có thể mặc đồng phục gọn gàng, chỉn chu. - Khách tham dự 18 Theo truyền thống thì đám cưới Thần đạo chỉ được tổ chức bởi những người thân. Tuy nhiên thời gian trôi qua thì những khác ngoài người thân như bạn bè, đồng nghiệp, cấp trên cũng được mời tham dự.
Họ có thể tham dự với trang phục Kimono hay trang phục Tây, tuy nhiên cần phải đảm bảo yếu tố trang trọng và lịch sự và tránh nổi bật hơn chú rể và cha của chú rể. Không giống như khách nam, khách nữ có thể dự đám cưới Thần đạo trong trang phục Kimono. Màu sắc và họa tiết của khách không quá nổi bật so với cô dâu. Tùy vào tình trạng hôn nhân mà khách mời nữ có thể chọn trang phục Kimono cho mình.
Khách nữ chưa lập gia đình thường chọn Furisode. Bên cạnh đó, khách nữ dù đã hay chưa kết hôn có thể mặc Houmongi để dự đám cưới. Trong trang phục phương Tây, trang phục lịch sự trang trọng. Khách nữ không mặc trang phục trắng trông giống trang phục của cô dâu và phụ kiện nổi bật hơn cô dâu.
Các lý thuyết Lý thuyết về trang trí và tạo hình Bế Ngọc Moong (1996) đã phát biểu: “Nghệ thuật trang trí có những đặc trưng nhất định về màu sắc, đường nét mảng hình. Mọi hình thức đó được sắp xếp trình bày một cách hợp lý và có sự thống nhất cùng một phong cách mà hình thức phù hợp với nội dung” (tr.6,7) Nguyễn Quân (1970) nhận định rằng: “Nghệ thuật tạo hình là mỹ thuật thị giác, là triết học thị giác, là xã hội học thị giác” (tr.35) Con người từ thời kỳ sơ khai đến văn minh hiện đại đều có những cách thức khác nhau để sáng tạo ra rất nhiều hình thức nghệ thuật mà trong đó nghệ thuật trang trí trang phục, trang sức, trang điểm là thứ nghệ thuật gần gũi với cuộc sống của mỗi người nhất. Loại hình nghệ thuật này có tính năng ngôn ngữ riêng biệt thể hiện năng lực văn hóa, trình độ thẩm mỹ cá nhân nói riêng và cả cộng đồng. 19 Nghệ thuật trang trí trên trang phục là nghệ thuật xử lý hoa văn với bố cục màu sắc trên chất liệu vài từ đơn giản đến phức tạp và kỹ xảo.
Mỗi một bộ trang phục được xử lý trong những bố cục đồ án trang trí độc lập nhưng tất cả lại hài hòa trong một tổng thể thống nhất. Lý thuyết biểu tượng trong văn hóa Loài người trong quá trình tiến hóa đã tạo ra biểu trưng để biểu đạt thông tin có tính mục đích. Biểu tượng là một yếu tố đại diện cho cá nhân, tổ chức, tập thể… Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là loại ký hiệu đặc biệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều gì đó. (Phan Thị Yến Tuyết, 2009) Phạm Đức Dương (2002) cho rằng: “Thế giới biểu tượng được hình thành trong quá trình từ ý niệm đến biểu tượng bằng cách dùng một hiện tượng tự nhiên làm vật thay thế và gán cho nó một ý nghĩa, một thông tin” (tr.151) Theo như từ điển Tiếng Việt của do Hoàng Phê (1988) chủ biên thì biểu tượng có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là “hình ảnh tượng trưng”, nghĩa thứ hai là “hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” (tr.