Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Vị trí địa lý Khu vực nghiên cứu của luận văn thuộc vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng đến độ sâu 30m nước. Bờ biển Sóc Trăng kéo dài khoảng 90km, bị chia cắt bởi ba cửa sông chính: cửa Trần Đề, cửa Định An (thuộc sông Hậu) và cửa Mỹ Thạnh (sông Mỹ Thạnh).
Khu vực nghiên cứu (hình 1.1) được giới hạn bởi đường bờ biển và các điểm có tọa độ được trình bày ở bảng 1. Vị trí vùng nghiên cứu 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. 1: Tọa độ các điểm giới hạn diện tích vùng nghiên cứu STT Vĩ độ Bắc Kinh độ Đông I 9° 33' 48" 106° 18' 28" II 9° 00' 43" 106° 49' 52" III 8° 40' 05" 106° 22' 30" IV 9° 13' 42" 105° 50' 00" 1. Đặc điểm địa hình, địa mạo đáy biển Địa hình ven biển tỉnh Sóc Trăng có xu hướng nghiêng thoải từ bờ biển về phía đất liền và từ cửa sông Hậu về phía Tây Nam.
Vùng nội đồng có độ cao trung bình từ 0,5 - 1,0m [8]. Vùng ven biển, ven sông do phù sa, gió và sóng biển đã tạo nên những giồng cát chạy dọc ven bờ biển. Các giồng cát có độ cao từ 1,2 đến 2m [3]. Địa hình phân cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch và kênh mương thủy lợi.
Do địa hình thấp và thông với biển bởi hệ thống sông kênh rạch nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn). Mặt cắt đo sâu đáy biển khu vực Sóc Trăng. a) Địa hình nghiêng thoải phía tây nam vùng nghiên cứu; b) Địa hình dốc trung tâm vùng nghiên cứu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Địa hình vùng biển ven bờ Sóc Trăng có sự phân bậc rõ rệt ở ba mức độ sâu: - Từ 0 - 5m nước: nhìn chung địa hình khá thoải. Đây là khu vực cửa sông nên có địa hình khá phức tạp, thay đổi theo mùa do tương tác động lực sông biển.
Tai đây có nhiều cồn và doi cát ngầm đan xen với các luồng lạch. - Từ 5 - 20m nước: địa hình có dạng sườn dốc. Ở phía Đông Bắc nơi gần cửa sông địa hình dốc hơn phía Tây Nam. Độ sâu 18-20m nước có thể là giới hạn ngoài của khu vực lắng đọng trầm tích hiện đại và vì thế địa hình có biến đổi theo thời gian nhưng không rõ nét như khu vực 0-5m nước.
- Từ 20 - 30m nước: địa hình thoải phát triển không theo một hướng nhất định hình thành nhiều sóng cát, đôi nơi phân bố các cồn ngầm thoải. Đặc điểm khí hậu Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, chia thành mùa là mùa khô và mùa mưa, trong đó mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [8]. a) Lượng mưa Theo số liệu thống kê trong giai đoạn (từ 2000 - 2008), lượng mưa trong năm trung bình khoảng 2.2) trong đó năm 2006 có lượng mưa thấp nhất (1. Tại vùng cửa sông Hậu, trong mùa mưa còn bị ảnh hưởng mạnh bởi những đợt lũ đã làm thay đổi đáng kể biến trình mực nước và thường gây ra lũ lớn.
Mùa khô hầu như không mưa dẫn tới tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Lượng mưa trung bình các tháng trong năm (mm) Năm 2000 2005 2006 2007 2008 Tháng Tháng 1 - - 4,9 68,5 0.5 Tháng 2 17,7 0,1 - - 2,0 Tháng 3 17,7 1,6 1,4 8,4 3,7 Tháng 4 175,8 6,6 117,8 15,5 71,7 Tháng 5 206,8 253,8 82,4 308,7 435,6 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 2000 2005 2006 2007 2008 Tháng Tháng 6 298,2 229,4 388,4 277,8 207,1 Tháng 7 215,5 419,0 243,2 123,0 200,3 Tháng 8 402,3 208,9 369,4 339,6 293,5 Tháng 9 260,6 346,7 249,4 243,6 277,7 Tháng 10 414,9 354,4 129,6 467,6 432,5 Tháng 11 75,9 164,8 29,2 85,5 272,8 Tháng 12 108,0 119,9 44,4 - 32,8 Lượng mưa cả năm 2193,4 2105,2 1660,0 1938,2 2230,2 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng 2009 b) Nhiệt độ và số giờ nắng - Nhiệt độ không khí của vùng nghiên cứu khá điều hòa, nhiệt độ trung bình trong năm là 26,80C. Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm thường là tháng 4 (28,20C) và nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 (25,50C) (bảng 1. - Nhiệt độ nước bề mặt vùng biển Sóc Trăng thuộc loại cao, thường trên dưới 300C.
Ở gần khu vực Côn Đảo nhiệt độ nước biển trung bình trong năm là 28,50C. Vào mùa hè nhiệt độ nước biển tương đối đồng nhất từ tầng mặt đến tầng đáy. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm (0C) Năm 2000 2005 2006 2007 2008 Tháng Tháng 1 26,1 24,6 25,6 25,6 25,4 Tháng 2 26,3 26,1 26,8 25,3 25,8 Tháng 3 27,4 27,9 27,2 27,3 26,8 Tháng 4 27,7 28,06 28,1 28,7 28,2 Tháng 5 27,8 28,4 27,7 27,6 27,2 Tháng 6 27,0 27,9 27,1 27,8 27,4 Tháng 7 26,9 26,2 26,9 26,9 26,8 Tháng 8 26,6 27,2 26,5 26,8 26,6 Tháng 9 26,9 26,8 26,5 26,9 26,5 Tháng 10 26,6 27,2 27,2 26,9 27,0 Tháng 11 26,7 26,7 27,4 26,2 26,2 Tháng 12 26,2 25,3 26,1 25,9 25,7 Trung bình năm 26,8 26,9 26,9 26,8 26,6 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng, năm 2009 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khu vực nghiên cứu có số giờ nắng trong năm khá cao. Số giờ nắng trung bình năm khoảng 2.345,0 giờ, cao nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 10 (Bảng 1.
Số giờ nắng trung bình các tháng trong năm Năm 2000 2005 2006 2007 2008 Tháng Tháng 1 250.5 117,2 217,8 211,8 152,2 Trung bình năm 2149,4 2488,4 2471,9 2322,5 2292,7 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng, năm 2009 c) Độ ẩm Do nằm trong khu vực gió mùa kiểu xích đạo và chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu biển nên thường xuyên có độ ẩm cao, về mùa lạnh thời tiết hanh, khô nên độ ẩm giảm đi. Độ ẩm thay đổi trong khoảng 79 – 89%, trung bình năm là 83,8%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 8 và thấp nhất là tháng 4 [10] (bảng 1. 5: Độ ẩm trung bình các tháng trong năm Năm Trung bình 2000 2005 2006 2007 2008 Tháng (2000-2008) Tháng 1 83 80 81 80 83 81.6 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm Trung bình 2000 2005 2006 2007 2008 Tháng (2000-2008) Tháng 6 90 88 87 92 88 89.8 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng 2008 d) Lượng bốc hơi Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm trên 1.000mm (tại thị xã Sóc Trăng là 1.014mm), mùa khô lượng bốc hơi bình quân tháng là 130 – 140mm, mùa mưa lượng bốc hơi bình quân nhỏ hơn (khoảng từ 60 – 70mm) [10]. e) Chế độ gió Chế độ gió: chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa đông hướng gió thịnh hành là Đông Bắc, Đông; mùa hè hướng gió thịnh hành là Tây, Tây Nam.
Trong cả năm thời gian lặng gió hoặc gió yếu chiếm khoảng 8%. Tháng 10 và tháng 4 là hai tháng giao mùa, tốc độ gió trong thời kỳ này chỉ đạt khoảng 3m/s, nhưng hướng gió thay đổi phức tạp. Đặc điểm thủy, hải văn Chế độ thủy, hải văn ven biển và biển Sóc Trăng chịu ảnh hưởng của dòng chảy, lưu lượng nước của sông Cửu Long và chế độ thủy triều. Với lưu lượng nước lớn (400x109 m3/năm), hàng năm hệ thống sông Mê Công chuyển tải ra biển một lượng bùn cát rất đáng kể qua 7 cửa, riêng đổ ra biển Sóc Trăng qua 2 cửa Trần Đề và Định An chiếm tới khoảng 30%.
Nhiều tài liệu đã xác định, hàng năm sông Mê Công tải ra biển khoảng 80 triệu tấn bùn cát. Thực tế có thể còn lớn hơn, vì ngoài lượng bùn cát di chuyển dưới dạng lơ lửng còn có thêm một lượng bùn cát đáng kể di chuyển dưới dạng lăn trượt theo đáy. Theo số liệu đo đạc tại 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trạm quan trắc Pakse (Lào) trong vòng 30 năm (1960 - 1989), hàng năm lượng bùn cát vận chuyển qua đây khoảng 170 - 180 triệu tấn vật liệu trầm tích [6]. Như vậy có thể thấy hàng năm sông Mê Công mang ra biển một lượng vật liệu trầm tích không dưới 100 triệu tấn.
Từ đó có thể sơ bộ xác định, hàng năm lượng bùn cát chuyển tải ra khu vực biển nông ven bờ tỉnh Sóc Trăng qua hai của Trần Đề và Định An có thể tới 30 triệu tấn. Hệ thống các kênh rạch trong vùng đều có cửa thông với sông Hậu, cho nên chế độ thủy văn phụ thuộc vào chế độ thủy triều của biển. Vùng biển ven bờ Sóc Trăng có chế độ bán nhật triều không đều. Trong tháng có 2 đợt triều cường vào ngày 15 và 30 âm lịch, biên độ dao động trung bình 3 - 4m [9].
Về mùa mưa một phần các huyện Thạnh Trị và Mỹ Tú bị úng ngập. Mùa khô các huyện ven biển, ven cửa sông Hậu bị nhiễm mặn. Nguồn nước mặt từ sông Hậu đổ vào hệ thống kênh rạch trong tỉnh là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và đời sống. Lưu lượng sông Hậu vào mùa mưa khoảng 7.
a) Chế độ sóng Chế độ sóng vùng nghiên cứu hình thành 2 mùa rõ rệt. Mùa khô sóng có hướng thịnh hành là Đông Bắc chiếm khoảng 75 - 85%, độ cao sóng trung bình khoảng 2 - 3,5m [7]. Sóng lớn có tần suất xuất hiện nhiều nhất vào tháng 11, với độ cao sóng cực đại có thể lên tới 5 - 6m. Mùa mưa sóng chủ yếu có hướng Tây Nam hoặc Tây.
Độ cao sóng trung bình khoảng 2 - 3m. Sóng hướng Tây Nam có tần suất xuất hiện cực đại vào tháng 8 - 9, với độ cao cực đại 4 - 5m. Thời gian lặng sóng hoặc có sóng yếu trong năm chỉ xấp xỉ 2%. b) Chế độ dòng chảy vùng biển ven bờ: Trong mùa mưa dòng chảy các tầng nhìn chung có xu thế đi từ Nam lên Bắc.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của đường bờ và địa hình đáy mà từng nơi có xuất hiện các hướng riêng biệt lệch khỏi hướng chính, tạo nên các hướng dòng cục bộ. Ngoài khơi, dòng chảy ổn định hơn với tốc độ trung bình 0,4 - 0,5 m/s. Đặc biệt tại khu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vực cửa Định An và Trần Đề, do dòng chảy sông khống chế nên hướng dòng chảy bị biến đổi phức tạp theo luồng sông và đạt tốc độ trung bình khoảng 0,6 - 0,8m/s. Mùa khô dòng chảy thường kỳ có hướng từ Bắc xuống Nam và chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc.
Khu vực ngoài khơi, dòng chảy có hướng tương đối ổn định.