MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Kế toán quản trị (KTQT) là một hệ thống kế toán thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cho các nhà quản trị trong quá trình ra các quyết định liên quan đến hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Trong đó kế toán trách nhiệm (KTTN) là nội dung cơ bản của KTQT và đƣợc thực hiện khi có sự phân quyền quản lý dựa vào phân loại cơ cấu tổ chức.
KTTN có vị trí và vai trò quan trọng trong việc quản lý tổ chức, là một bộ phận của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính và có vai trò quản lý, điều hành, kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính trong tổ chức; đồng thời cũng cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản trị của tổ chức nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất. KTQT sử dụng hệ thống KTTN để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng bộ phận dựa trên trách nhiệm đƣợc giao cho từng trung tâm. KTTN giúp cho nhà quản trị giải quyết đƣợc bài toán về phân quyền và kiểm soát tại tổ chức. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng nhƣ hiện nay, các trƣờng Đại học Công lập (ĐHCL) đã và đang đứng trƣớc những cơ hội nhƣng cũng phải đối mặt với những thách thức cho sự tồn tại và phát triển của mình.
Một trong những khó khăn đó là việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính tại các trƣờng. Năm 2012, với việc ban hành luật Giáo Dục Đại Học đã tái khẳng định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GDĐH với tinh thần đổi mới mạnh mẽ về tƣ duy trong quản trị đại học. Hiện nay, việc quản lý tài chính tại các trƣờng ĐHCL đang đƣợc thực hiện theo quy định của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ban hành ngày 21/6/2021 quy định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Cùng với đó là sự thay đổi của chế độ kế toán HCSN từ Quyết định 19/2006/QĐ-BTC sang Thông tƣ 107/2017/TT-BTC, tiệm cận với Chuẩn mực kế toán công quốc tế, áp dụng từ năm tài chính 2018 nhằm cung cấp các thông tin kế toán tài chính (KTTC) cho các đối tƣợng bên trong và bên ngoài đơn vị.
Mặt khác, ngày 31/7/2019, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 1299/QĐ-BTC Phê duyệt đề án công bố hệ thống Chuẩn mực Kế toán công Việt Nam, đây cũng chính là cơ sở để hoàn thiện chế độ kế toán tại các đơn vị công lập hơn nữa. Nếu các trƣờng ĐHCL có thể nắm đƣợc thông tin của KTTC kết hợp với KTQT, thực hiện dựa trên các thông tin của KTTN thì việc quản lý tài chính tại các trƣờng sẽ phần nào đƣợc dễ dàng và bớt khó khăn hơn. Tuy nhiên việc thực 1 luan an hiện KTTN trong các trƣờng ĐHCL vẫn còn rất nhiều hạn chế. Một trong những hạn chế đó là việc phân cấp quản lý tại các trƣờng ĐHCL khá là đa dạng; do đó việc kiểm soát và đánh giá thành quả quản lý theo từng đơn vị, bộ phận, cá nhân còn đang vƣớng phải những khó khăn cần đƣợc tháo gỡ để hoàn thiện tốt hơn yêu cầu quản lý.
Vì vậy, việc nghiên cứu KTTN tại các trƣờng ĐHCL có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết đối với các trƣờng trong giai đoạn hiện nay. KTTN đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu sâu rộng và áp dụng tại nhiều loại hình tổ chức và lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, đối với Viêt Nam, KTTN là một lĩnh vực khá mới mẻ, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục với đặc thù là các trƣờng ĐHCL hoạt động đa ngành có cơ cấu tổ chức gắn với trách nhiệm của nhiều đơn vị, cá nhân. Khi môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu diễn ra gay gắt cộng với những thay đổi không ngừng của khoa học công nghệ dẫn đến các hệ thống kiểm soát cũ không đủ khả năng đáp ứng nếu không chịu cập nhật, điều chỉnh.
Nhu cầu cung cấp thông tin cho nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến sự sống còn của trƣờng ĐHCL đòi hỏi phải có một công cụ kiểm soát hữu hiệu giúp cho nhà quản trị thực hiện việc kiểm soát quản trị trong môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu hiện nay; phù hợp với xu thế hội nhập, phát triển bền vững. Xuất phát từ những yêu cầu cần thiết, khách quan đã nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Kế toán trách nhiệm trong các trường đại học công lập khu vực miền Bắc” để hoàn thiện hơn công cụ quản lý kinh tế tại các trƣờng ĐHCL, giúp cho ngành giáo dục Đại Học của Việt Nam ngày một mạnh mẽ và thành công hơn nữa. Tổng quan các công trình nghiên cứu. Qua quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu về KTTN đƣợc thực hiện dƣới nhiều góc nhìn và phạm vi khác nhau.
KTTN không chỉ đƣợc nghiên cứu ở mặt lý thuyết mà còn đƣợc nghiên cứu ứng dụng vào một số ngành cụ thể. Mỗi quốc gia có môi trƣờng kinh doanh, môi trƣờng văn hóa, hệ thống pháp lý, trình độ quản lý, cơ sở vật chất, khoa học công nghệ kỹ thuật khác nhau nên trình độ phát triển KTTN cũng khác nhau. Sau đây là tổng quan một số công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu. Những nghiên cứu chung về kế toán trách nhiệm.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX mà Pirre du Pont, Donaldson Brown và Alfred Sloan là những ngƣời đóng góp nhiều cho sự phát triển của KTQT. Theo 2 luan an nguyên tắc “phân quyền trách nhiệm để kiểm soát tập trung”. Các nhà khoa học đã đƣa ra nhiều sáng kiến để giải quyết các vấn đề phức tạp trong quản trị tổ chức. Cùng với việc xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho quản trị doanh nghiệp đã thực hiện việc phân quyền trách nhiệm.
Các bộ phận và các phòng ban trong tổ chức, đƣợc giao quyền tự chủ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm trong các quyết định quản lý cho đơn vị của họ. Có thể thấy rằng KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT, do vậy quá trình hình thành và phát triển của KTTN gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của KTQT (từ những năm 1950). KTTN đƣợc các nhà nghiên cứu xem xét ở các góc độ khác nhau, xong có thể khắc họa bằng các chủ đề sau: Một trong những nghiên cứu đầu tiên đề cập đến KTTN có thể kể đến là Ailman (1950) với nghiên cứu “Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting - Lập kế hoạch tổ chức cơ bản để gắn liền với kế toán trách nhiệm”, tác giả mới đầu đƣa ra định nghĩa KTTN là sự ràng buộc hệ thống kiểm soát kế toán với tổ chức, trách nhiệm của ngƣời quản lý và giám sát bộ phận. KTTN đƣợc tạo ra nhằm thu thập chi phí và đánh giá hiệu suất quản trị.
Mỗi nhà quản trị trong tổ chức chịu trách nhiệm và kiểm soát về một khoản chi phí đƣợc giao trách nhiệm [73]. Xoay quanh quan điểm coi KTTN là công cụ kiểm soát chi phí, một số tác giả khác đã đƣa ra quan điểm: KTTN là phân công trách nhiệm đối với chi phí cho nhà quản lý, ngƣời đƣa ra quyết định và tiến hành các hoạt động phát sinh các chi phí này (Corr & Parris, 1976) [87]. KTTN là một cách tiếp cận mới để lập kế hoạch và báo cáo có liên quan trực tiếp đến báo cáo chi tiêu hay kiểm soát chi phí của các nhà quản lý (McDaniel, 1953) [123]. Bản chất của KTTN là sự tích lũy chi phí và doanh thu theo các lĩnh vực có trách nhiệm (Liao, 1973) [119].
Hệ thống KTTN sẽ cung cấp phƣơng tiện để xác định chi phí kiểm soát, trách nhiệm về chi phí phát sinh, cải thiện ngân sách và xác định chi phí với một cơ sở cụ thể. KTTN là một phƣơng pháp để thiết lập nơi mà công việc của một tổ chức bắt đầu và ngƣời quản lý nó. Cơ sở cho KTTN là các cá nhân hoặc các nhóm sẽ chỉ bị tính phí cho những thứ mà họ kiểm soát hoặc ảnh hƣởng đáng kể (Ferrara, 1982) [97]. KTTN là một phần kế toán chi phí, thực hiện mục tiêu chính của quản lý chi phí là tìm ra giải pháp tối ƣu giữa các nguồn lực đƣợc sử dụng và kết quả đạt đƣợc.
KTTN phân chia, phân bổ và kiểm soát chi phí tốt hơn (Kosarkoska & Mircheska, 2012) [117]. 3 luan an Nhƣ vậy, theo các nghiên cứu này KTTN đƣợc coi là công cụ kiểm soát chi phí theo các cấp quản trị, hay công cụ lập kế hoạch về chi phí hay một phần của kế toán chi phí nhằm kiểm soát chi phí phát sinh theo các cấp quản trị, có thể thấy đây mới là nhƣng nghiên cứu mang tính khởi đầu và các nội dung của KTTN còn hạn chế. Mặt khác, theo quan điểm của Kellogg (1962) với nghiên cứu “Fundamentals of responsibility accounting - Nguyên tắc cơ bản của kế toán trách nhiệm”, cho rằng KTTN nhƣ là ngân sách mở rộng vƣợt ra ngoài trách nhiệm của các cơ quan quản lý tài chính. KTTN đƣợc áp dụng với trách nhiệm chính thuộc về quản lý chung, quản lý các cấp và kế toán đóng vai trò hỗ trợ.
Thông qua KTTN, mục tiêu và trách nhiệm của việc tổ chức kinh doanh đƣợc phân loại và gắn liền ở mọi cấp độ [115]. Bản chất của KTTN là đi đến việc chuẩn bị ngân sách cho các bộ phận, thu thập thông tin về kết quả của các hoạt động diễn ra ở đó và để báo cáo tóm tắt hiệu suất, đó là cơ sở để đánh giá những ngƣời chịu trách nhiệm quản lý những bộ phận đó (Shih, Michael SH,1997) [134]. Khi ngân sách đƣợc so sánh với thực tế và tìm ra chênh lệch, KTTN có thể đƣợc sử dụng để xác định nguyên nhân của sự chênh lệch và từ đó cải thiện chức năng quản lý. KTTN xác định trách nhiệm của mỗi ngƣời quản lý trong việc thực các mục tiêu của mình trong tổ chức (Mojgan, 2012) [127].
KTTN đã có sự phát triển mạnh mẽ theo chiều sâu, từ chức năng kiểm soát chi phí, KTTN đã đƣợc sử dụng để lập kế hoạch, cải thiện chức năng quản lý.