Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Cơ sở lý luận về trách nhiệm của thương nhân trong việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng 1. Khái niệm thương nhân Thương nhân là một khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực thương mại và đây cũng được coi là chủ thể chủ yếu của Luật thương mại. Khái niệm thương nhân luôn được xác định trong pháp luật của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng, mỗi quốc gia đều có những phương pháp định nghĩa khác nhau về thương nhân.
• Theo Luật thương mại Pháp 1807 - Bộ luật thương mại đầu tiên được pháp điển hóa trên thế giới thì “Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình”1. Như vậy, Luật thương mại Pháp định nghĩa thương nhân theo bản chất của chủ thể. Luật Pháp không quy định về trách nhiệm đăng ký kinh doanh mà chỉ quy định về loại hành vi thương mại mà chủ thể thực hiện để được coi là thương nhân. Ngoài việc thực hiện nhiều hành vi thương mại, chủ thể cần đáp ứng được điều kiện về những hành vi đó như “lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình”.
Chỉ khi thực hiện các hành vi thương mại một cách thường xuyên, lâu dài mang tính chất nghề nghiệp (tức hoạt động kinh doanh mang tính ổn định, lâu dài, có sinh lời mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể) thì chủ thể thực hiện hành vi đó mới được coi là thương nhân2. 1 Điều 1, Luật thương mại Pháp năm 1907 2 Lê Thị Phương Thảo (2017), Chế định thương nhân ỏ Việt nam, luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Tr 12 10 • Bộ Luật thương mại Đức – một trong những bộ luật thương mại tiêu biểu trên thế giới đại diện cho họ pháp luật La Mã - Đức quy định về thương nhân có phần phức tạp hơn. Thương nhân là những người hành nghề kinh doanh3. Hành nghề kinh doanh là bất kì cơ sở hành nghề nào mang lại lợi nhuận, ngoại trừ các doanh nghiệp mà căn cứ theo tính chất, phạm vi của nó không đòi hỏi phải thiết lập cơ sở để hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp hành nghề mà cơ sở hoạt động của nó chưa phải là hành nghề kinh doanh theo quy định trên vẫn được coi là hành nghề thương mại theo định nghĩa của Bộ luật này nếu hãng của doanh nghiệp có đăng ký trong danh bạ thương mại. Khi đã đăng ký thì việc xóa tên của hãng cũ có thể xảy ra theo đơn đề nghị của doanh nghiệp, trong trường hợp không có cơ sở theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Bộ luật thương mại. Khi một hãng đã đăng ký trong danh bạ thương mại thì không thể bị ai đó dựa vào việc đăng ký để cáo buộc rằng cơ sở ngành nghề trực thuộc hãng không phải là cơ sở hành nghề thương mại4. Các quy định đối với thương nhân cũng được áp dụng cho các công ty thương mại5.
Như vậy, theo Bộ luật thương mại Đức thì thương nhân là người thực hiện một cách tự chủ hoạt động ngành nghề kinh doanh, nhằm mục đích thu lợi nhuận. Tuy nhiên, công việc kinh doanh phải đạt phạm vi giao dịch và đòi hỏi một mức độ tổ chức doanh nghiệp nhất định (như thiết lập cơ sở hoạt động kinh doanh). Điều này không có ở những người kinh doanh nhỏ lẻ, với họ luật thương mại không có hiệu lực áp dụng. Tuy nhiên, những người này vẫn có thể tự nguyện nhận được tự cách thương nhân khi đăng ký trong danh bạ thương mại.
Đối với các công ty đối vốn và hợp tác xã thì bắt buộc phải dựa vào hình thức pháp lý là các thương gia. Tóm lại, luật thương mại của các nước theo họ Pháp luật La Mã - Đức quan niệm công ty thương mại là các thương nhân bởi hình thức. Theo đó, bất kỳ một thực thể có cơ sở để hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có tên hãng được đăng kí trong danh bạ thương mại hoặc những người kinh doanh nhỏ lẻ đăng ký tên trong 3 Khoản 2, Điều 1, Bộ luật thương mại Đức năm 1897 4 Điều 5, Bộ luật thương mại Đức năm 1897 5 Khoản 1, Điều 6, Bộ luật thương mại Đức năm 1897 11 danh bạ thương mại sẽ đều được coi là thương nhân và được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại. • Theo pháp luật Hoa Kỳ - khái niệm “thương nhân” được định nghĩa trong Bộ luật Thương mại Hoa Kỳ -1990.
Theo bộ luật này, có 3 loại hình thương nhân chủ yếu là: cá nhân kinh doanh, công ty đối nhân và công ty đối vốn. Nhìn chung, thương nhân trong luật Hoa Kỳ bao gồm một nhóm người thực hiện các hoạt động kinh doanh hàng hóa như những công việc thường xuyên lâu dài của họ. Luật thương mại Hoa Kỳ không điều chỉnh với các loại hàng hóa là bất động sản và dịch vụ mà chỉ điều chỉnh với các loại hàng hóa động sản6 • Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về thương nhân từ những văn bản pháp luật về thương mại đầu tiên là Luật thương mại 1997 và sau đó là Luật thương mại 2005. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định về thương nhân như sau: “Thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên”7.
Sau quá trình sửa đổi, Luật thương mại 2005 định nghĩa lại về khái niệm thương nhân như sau: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”8. Từ quy định trên, có thể thấy Luật thương mại Việt Nam đang định nghĩa thương nhân theo kiểu hình thức. Theo đó, các chủ thể chỉ được công nhận là thương nhân khi đáp ứng đủ yêu cầu về hình thức như “tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân có đăng ký kinh doanh ”. Tư cách thương nhân được xác định dựa theo việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không căn cứ vào hoạt động thương mại do chủ thể kinh doanh thực hiện.
Tóm lại, các quốc gia trên thế giới hiện nay có những cách thức định nghĩa về thương nhân rất khác nhau. Mỗi cách thức định nghĩa sẽ đem đến những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Với cách định nghĩa thương nhân theo bản chất 6 Lê Thị Phương Thảo (2017), Chế định thương nhân ỏ Việt nam, luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Tr 14 7 Khoản 6, Điều 5, Luật thương mại năm 1997 8 Điều 6, Luật thương mai năm 2005 12 hành vi thương mại, các quốc gia này cần xác định rõ căn cứ để nhận biết hành vi thương mại trong rất nhiều loại hành vi được các thương nhân thực hiện trong đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, với các quốc gia xác định tư cách thương nhân bằng hình thức đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc nhận biết tổ chức nào là thương nhân là một vấn đề tương đối phức tạp 1.
Khái niệm người tiêu dùng Pháp luật mỗi quốc gia có các tiêu chí để xác định và khái niệm khác nhau về người tiêu dùng. Nhưng cho dù khái niệm khác nhau về người tiêu dùng thì mục đích để xây dựng khái niệm người tiêu dùng là nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng trước những hành vi xâm phạm quyền của người tiêu dùng. Theo Đại từ điển Việt nam “Tiêu dùng là dùng của cải, vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất”9. Từ khái niệm này, có thể hiểu người tiêu dùng không chỉ là người sử dụng của cải, vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày mà còn bao gồm những người sử dụng của cải, vật chất cho hoạt động sản xuất.
Tuy nhiên xét dưới góc độ hành vi, người tiêu dùng có thể là người mua, người sử dụng (theo pháp luật Đức) hoặc bao gồm cả người được chào hàng (như Thái Lan)10. Người mua không luôn luôn là người sử dụng duy nhất và cuối cùng, họ có thể chuyển giao quyền sử dụng hoặc có thể là quyền sở hữu cho một chủ thể khác. Xét dưới góc độ mục đích, người tiêu dùng thông thường là người sử dụng sản phẩm cho sinh hoạt cá nhân, gia đình mà không phải là dùng cho mục đích phục vụ kinh doanh, sản xuất11. Hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về người tiêu dùng: 9 Trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt nam (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB VHTT, Hà Nội, Tr.1640 10 Tạp chí dân chủ và pháp luật, Pháp luật thế giới về phạm vi chủ thể trong trách nhiệm sản phẩm, Nguyễn Minh Thư, nguồn: https://tcdcpl.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=28 (truy cập ngày 16/9/2020) 11 Tạp chí dân chủ và pháp luật, Pháp luật thế giới về phạm vi chủ thể trong trách nhiệm sản phẩm, Nguyễn Minh Thư, nguồn: https://tcdcpl.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=28 (truy cập ngày 16/9/2020) 13 • Hiểu theo nghĩa hẹp: người tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của mình12.
Như vậy, người tiêu dùng bao gồm cả người mua hàng hóa và người sử dụng dịch vụ • Hiểu theo nghĩa rộng: người tiêu dùng ngoài mục đích mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì còn có thể phục vụ cho mục đích tái sản xuất kinh doanh13 Pháp luật mỗi quốc gia có tiêu chí xác định và khái niệm khác nhau về người tiêu dùng, chủ yếu dựa vào tư cách chủ thể và mục đích sử dụng để quy định thế nào là người tiêu dùng: - Người tiêu dùng là cá nhân: mua và sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho mục đích cá nhân, sử dụng trong hộ gia đình mà không vì mục đích thương mại hoặc sử dụng vào quá trình sản xuất - Người tiêu dùng bao gồm cả cá nhân và tổ chức: mua và sử dụng hàng hóa vì mục đích tiêu dùng hoặc mục đích thương mại14 Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm về người tiêu dùng.