MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu .15 NỘI DUNG CHÍNH .18 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
Khái niệm công cụ của đề tài. Khái niệm đạo đức kinh doanh. Khái niệm giá trị đạo đức. Khái niệm giá trị đạo đức trong kinh doanh.
Khái niệm Phật tử. Lý thuyết hành động của Max Weber. Lý thuyết giá trị học hiện đại:. Lý thuyết đạo đức:.
Khái quát về địa bàn nghiên cứu .24 CHƢƠNG 2: PHẬT TỬ VÀ NỘI DUNG CÁC GIÁ TRỊ PHẬT GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH. Khái quát về mối liên hệ giữa tôn giáo và đạo đức trong kinh doanh. Chức năng kiểm soát của Phật giáo với đời sống của Phật tử. Khả năng thực hiện chức năng kiểm soát xã hội của Phật giáo.
Cơ chế thưởng – phạt nhằm duy trì các khuôn mẫu hành vi. Quan niệm của Phật giáo về động cơ làm giàu. Quan niệm về Tám con đƣờng chân chính và sự định hƣớng giá trị đạo đức trong kinh doanh của Phật giáo. Giá trị về nghề nghiệp chân chính và sự tiêu thụ đúng đắn.
Giá trị về suy nghĩ đúng đắn và nỗ lực đúng đắn. Giá trị về nhìn sự thật, nói sự thật. Giá trị về sự lượng giá bản thân và sự vật .59 CHƢƠNG 3: MỨC ĐỘ QUAN TRỌNG CỦA CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH ĐỐI VỚI PHẬT TỬ HÀ NỘI. Phật tử và sự xếp hạng mức độ quan trọng của các giá trị đạo đức trong kinh doanh.
Định hƣớng giá trị đạo đức của Phật tử về mặt hàng kinh doanh. Định hƣớng giá trị đạo đức của Phật tử trong mối quan hệ kinh doanh với ngƣời cùng nghề. Định hƣớng giá trị đạo đức của Phật tử trong mối quan hệ kinh doanh với khách hàng. Quan điểm của Phật tử về mối quan hệ giữa ngƣời kinh doanh và xã hội.
Đánh giá của Phật tử về mức độ quan trọng của trách nhiệm hội trong việc kinh doanh. Đánh giá của Phật tử về trách nhiệm xã hội tình nguyện của người kinh doanh với cộng đồng. 106 z DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Sự tự đánh giá của Phật tử về ảnh hƣởng của Phật giáo đối với hành vi của họ trong đời sống .33 Bảng 2: Mức độ niềm tin của Phật tử vào một số quan niệm cốt lõi của Phật giáo hàm ý về sự phán xét .35 Bảng 3: Kết quả từ cơ chế kiểm soát xã hội của Phật giáo – Niềm tin vào việc đi theo Phật giáo giúp có đƣợc tối đa lợi ích về mặt tinh thần .40 Bảng 4: Sự tự đánh giá của Phật tử trong việc thực hiện từ bỏ tham vọng và mong muốn gây hại tới ngƣời khác .52 Bảng 5: Mức độ đồng tình của Phật tử đối với ý nghĩa của giá trị chăm chỉ lao động đối với sự thành công trong tƣơng lai .55 Bảng 6: Mức độ đồng tình của Phật tử đối với các hành vi chăm chỉ lao động .60 Bảng 7: Quan điểm của Phật tử đối với các tình huống trong kinh doanh có liên quan tới giá trị minh bạch .66 Bảng 8: Quan điểm của Phật tử về những mặt hàng Phật tử không nên kinh doanh.68 Bảng 9: Mức độ đồng tình của Phật tử đối với các cách thức ứng xử với nhân viên .76 Bảng 10: Quan điểm của Phật tử về ảnh hƣởng của giá trị nhân đạo đối với việc kinh doanh .80 Bảng 11: Quan điểm của Phật tử về việc chọn ngƣời để hợp tác .89 Bảng 12: Mức độ quan trọng của việc tố cáo các đồng nghiệp vi phạm đạo đức kinh doanh đối với Phật tử .90 z DANH MỤC BIỂU Biểu đồ 1: Cơ cấu mẫu khảo sát phân theo nhóm nghề nghiệp của ngƣời trả lời 15 Biểu đồ 2: Cơ cấu mẫu khảo sát phân theo giới tính của ngƣời trả lời. 15 Biểu đồ 3: Mức độ đồng tình của Phật tử với nhận định “Tôi luôn trung thực với điều mình nói”.
58 Biểu đồ 4: Thứ bậc của 5 giá trị mà các Phật tử coi là quan trọng nhất đối với một ngƣời kinh doanh. 65 Biểu đồ 5: Quan điểm của Phật tử đối với câu "Phật tử không đƣợc kinh doanh hàng hiệu đắt tiền”. 72 Biểu đồ 6: “Tháp Trách nhiệm xã hội”của Archie B. 92 Biểu đồ 7: Quan niệm về trách nhiệm cao nhất của một ngƣời kinh doanh.
95 Biểu đồ 8: Sự phân phối mục đích sử dụng tiền dƣ thừa của Phật tử. Lý do chọn đề tài Dƣờng nhƣ chƣa bao giờ vấn đề đạo đức kinh doanh lại trở nên nhạy cảm nhƣ hiện nay. Những vi phạm về đạo đức trong vấn đề này dƣờng nhƣ đang ngày một phổ biến và xuất hiện trên hầu hết mọi lĩnh vực, ở mọi loại mặt hàng kinh doanh, từ thực phẩm, thuốc men tới thiết bị gia dụng, kinh tế dịch vụ… theo các quy mô lớn - nhỏ khác nhau, khiến nhiều ngƣời cảm thấy quan. Vì vậy nhu cầu về một nhận thức đúng đắn và toàn diện hơn đối với vấn đề đạo đức trong kinh doanh dƣờng nhƣ đang trở thành một điểm nóng và đòi hỏi các nhà khoa học cần đào sâu tìm hiểu về vấn đề này.
Lật ngƣợc trở lại, có thể nhận thấy, những quan điểm về giá trị đạo đức cá nhân đóng vai trò quan trọng trong vấn đề ra quyết định hành động của một ngƣời - đây là một điều không thể phủ nhận. Việc một ngƣời quyết định sẽ có hay không thực hiện một hành vi nào đó trong kinh tế nhiều khi phụ thuộc vào việc họ đánh giá vấn đề đó là đúng hay là sai về mặt đạo đức, liệu có phù hợp hay không phù hợp để thực hiện nó trong một hoàn cảnh cụ thể? Bởi thế mà nghiên cứu về quan điểm, giá trị của các nhóm công dân về vấn đề đạo đức trong kinh doanh là điều rất quan trọng. Mặt khác, một trong nhiều yếu tố quyết định đến ý thức đạo đức cá nhân lại rất có thể là niềm tin tôn giáo của họ. Mostafa Emami, Kamran Nazari (2012) trong phần định nghĩa về đạo đức kinh doanh đã viết nhƣ sau: Dựa theo định nghĩa của Jone (1991) về các quyết định đạo đức thì, các doanh nhân, người cho rằng mối quan tâm của mình về tôn giáo chính là điều quan trọng nhất, và cả những doanh nhân, người có một niềm tin tôn giáo hết sức chính thống, sẽ thể hiện một sự nhạy cảm hơn trong những đánh giá về mặt đạo đức (trên ít nhất là 5/16 vấn đề đạo đức) so với các doanh nhân, người cho rằng mối quan tâm tôn giáo của họ chỉ ở mức thấp hoặc thậm chí không quan trọng chút nào.
Tuy nhiên, cũng có những ý kiến trái chiều, cho rằng không phải cứ những ngƣời có niềm tin tôn giáo mạnh mẽ thì đồng nghĩa với việc họ sẽ tuân thủ đạo đức kinh doanh một cách nghiêm ngặt; Không phải cứ là những tín đồ thƣờng xuyên đi 1 z nghe thuyết giảng về tình thƣơng, luân lý thì sẽ ngập ngừng trong quyết định bán hàng với giá đắt cắt cổ; là ngƣời theo tôn giáo nào cũng đều nhƣ vậy. Vậy liệu chăng có tồn tại mối liên hệ nào giữa tôn giáo và đạo đức kinh doanh trên thực tế hay không? Nếu có, thì mối liên hệ ấy đƣợc biểu hiện ra nhƣ thế nào? Nói cách khác, đi tìm thực trạng quan điểm của các tín đồ tôn giáo cũng chính là đi tìm phần nào biểu hiện của mối liên hệ giữa tôn giáo và đạo đức kinh doanh. Riêng ở Việt Nam, một đất nƣớc phƣơng Đông coi Phật giáo là tôn giáo chủ đạo thì việc nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo và đạo đức trong kinh doanh lại đặc biệt có ý nghĩa. Bởi mặc dù những tri thức về đạo đức kinh doanh cho tới thời điểm này đã đƣợc các học giả phƣơng Tây nghiên cứu một cách bài bản đến nửa thế kỷ, song khi đặt nó vào bối cảnh phƣơng Đông thì cách thức nào để truyền đạt hữu hiệu nhất những tri thức ấy lại là một vấn đề cần tìm hiểu.
Trong khi việc giảng dạy đạo đức đối với các giảng viên phƣơng Tây để sinh viên của mình hiểu vẫn đƣợc coi là một “thử thách” (Laura P. Hartman, Joe Desjardins: vi), thì việc áp dụng cách thức truyền bá đạo đức kinh doanh nhƣ vậy vào đất nƣớc ta lại càng khó. Với số lƣợng ngƣời kinh doanh nhỏ lẻ lớn (năm 2013, số lƣợng chợ hạng 3 của cả nƣớc là 7.375 chợ, ở Hà Nội là 418 chợ - Tổng cục Thống kê) và trình độ học vấn khác nhau thì việc tập trung tập huấn đạo đức kinh doanh rất khó. Ngƣợc lại, với số lƣợng ngƣời theo và tin vào đạo Phật tƣơng đối lớn (năm 2009 cả nƣớc có 6.318 ngƣời xác nhận theo đạo Phật – Tổng điều tra dân số và nhà ở, chiếm 43,5% trong tổng số ngƣời theo các tôn giáo), những tƣ tƣởng cốt lõi của đạo Phật lại dễ dàng truyền đƣợc đến với số đông ngƣời Việt Nam.
Vậy những tƣ tƣởng cốt lõi của đạo Phật rất gần gũi với nguyên lý của đạo đức trong kinh doanh? Tƣ tƣởng Phật giáo ấy tạo ra hiệu ứng nhƣ thế nào lên quan điểm của những ngƣời có hiểu biết về nó? Con đƣờng tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi này cũng chính là con đƣờng giúp tìm kiếm một giải pháp có tính ứng dụng để giải quyết các vấn đề thuộc về đạo đức trong kinh doanh ngày nay. Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài tìm hiểu về “Quan điểm của Phật tử Hà Nội về giá trị đạo đức trong kinh doanh hiện nay”, với mục đích vừa 2 z là đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thực tế sự đánh giá tính đạo đức trong kinh doanh, vừa là sự đáp ứng cho việc mở ra một chủ đề học thuật chƣa mấy đƣợc bàn đến ở Việt Nam dƣới góc độ xã hội học là chủ đề về đạo đức kinh doanh. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Xung quanh vấn đề nghiên cứu về quan điểm của Phật tử Hà Nội về vấn đề giá trị đạo đức trong kinh doanh, có thể điểm đến các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên quan đến lĩnh vực đạo đức trong kinh doanh và các nghiên cứu về sự tham gia Phật giáo.